Bảo vệ thành công 02 kháng nghị giám đốc thẩm dân sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

15/07/2019
Xem với cỡ chữ:

 

Vừa qua, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã mở các phiên tòa giám đốc thẩm xét xử một số vụ án dân sự do có kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và đã chấp nhận 02 Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

 

Vụ thứ nhất: Vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T với bị đơn ông Nguyễn Thế H.

 

Nguồn gốc đất hồ nuôi tôm tranh chấp thuộc thửa đất số 911, tờ bản đồ số 05, tại thôn 5, xã, huyện Q, tỉnh Q (nay là tổ dân phố 5, Q, thị xã B, tỉnh Q). Năm 2003, vợ chồng ông T, bà T được Ủy ban nhân dân xã Q giao đất nuôi trồng thuỷ sản theo Nghị định 64/CP. Ngày 25/7/2005, Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC: 980874 cho hộ T, bà T, diện tích 2.315m2, thời hạn sử dụng đến tháng 12/2014. Năm 2005, ông T, bà T có cho ông H mượn đất hồ tôm này để nuôi trồng hải sản, thời hạn đến năm 2014, nhưng quá hạn ông H không chịu trả, nên ông T, bà T khởi kiện yêu cầu ông H phải trả lại đất hồ tôm. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà T, buộc bị đơn ông H phải trả lại diện tích đất hồ tôm và tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm) lập ngày 15/3/2005 giữa ông T và ông H là vô hiệu.

 

Sau khi xét xử phúc thẩm, bị đơn ông H có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Qua xem xét, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thấy rằng:

 

Nhiều chứng cứ còn mâu thuẩn:

 

Ngày 15/3/2005, ông T đã viết “Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm” cho ông H, nội dung: Nay gia đình không đủ điều kiện để nuôi trồng, nên  vợ chồng tôi đã bàn bạc và nhất trí chuyển đổi lại hồ nuôi tôm cho anh Nguyễn Thế H. Anh Nguyễn Thế H tiếp nhận, sử dụng hồ nuôi tôm kể từ ngày 15/3/2005. Mọi khoản đóng góp liên quan đến hồ nuôi tôm kể từ ngày trên anh H phải nộp. Anh H được sử dụng theo Nghị định 64/CP… Giấy này có chữ ký của ông T, ông H; có xác nhận của ông Nguyễn Xuân C- Trưởng thôn 5 và ông Phạm Hùng S- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q.

 

Trong lời khai của Ông T, bà T có lúc cho rằng chỉ cho ông H mượn đất hồ tôm, lúc khác lại khai chỉ chuyển nhượng quyền canh tác hồ tôm, nhưng không có chứng cứ chứng minh. Lời khai của ông T, bà T mâu thuẫn với “Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm” lập ngày 15/3/2005 (bà T còn cho rằng Bà không ký và không biết “Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm” này cho đến năm 2017, khi bà đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H mới đưa giấy này cho Bà xem).

 

Ngược lại Ông H cho rằng, Ông đã mua đất hồ nuôi tôm theo “Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm” với giá 10.000.000đ, mua bán tại nhà ông T, có bà T chứng kiến và bà T trực tiếp nhận tiền. Lời khai của ông H phù hợp với thực tế là Ông canh tác trên diện tích đất hồ tôm từ 2005 đến 2017 nhưng vợ chồng ông T, bà T không có ý kiến gì và không đòi hỏi quyền lợi gì. Năm 2017, chính quyền địa phương giải quyết bồi thường sự cố môi trường biển Formosa, ông H được nhận số tiền 18.472.565 đồng; việc ông H đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; việc vợ chồng ông T, bà T rao bán hồ nuôi tôm và đã bán cho ông H năm 2005 được nhiều người làm chứng xác nhận (ông Nguyễn Minh T, ông Nguyễn Hữu R, ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Thế H). Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B cũng xác định ông T đã chuyển nhượng hồ nuôi tôm cho ông H.

 

Như vậy, lời khai nguyên đơn, bị đơn và những người làm chứng có nhiều mâu thuẫn, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm không tổ chức đối chất để xem xét việc ông T, bà T đã chuyển nhượng cho ông H diện tích đất hồ nuôi tôm với giá 10.000.000đ vào năm 2005 là vi phạm Điều 100 BLTTDS.

 

Trong khi lời khai của đương sự còn nhiều mâu thuẫn, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm cũng không lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân C- Trưởng thôn 5 và ông Phạm Hùng S- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q đã ký xác nhận vào “Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm” để làm rõ bản chất của vụ án là chưa khách quan, toàn diện.

 

Mặt khác, UBND xã Q xác nhận ông T đã chuyển nhượng hồ nuôi tôm cho ông H. Thế nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm không làm rõ vì sao ngày 25/7/2005 UBND huyện Q lúc bấy giờ lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà T.

 

Việc xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu cũng không đúng:

 

Việc Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm) lập ngày 15/3/2005 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn H vô hiệu, buộc ông H trả lại thửa đất tranh chấp diện tích 2.315m2, nhưng không tiến hành định giá tài sản theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết (theo đương sự cung cấp tại giai đoạn giám đốc thẩm thì giá hồ tôm hiện nay khoảng 500.000.000đ đến 600.000.000đ); không xác định thiệt hại thực tế và xem xét lỗi của các bên để buộc bồi thường thiệt hại của bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cũng chưa giải quyết số tiền 10.000.000đ ông H giao cho ông T, bà T là không đúng với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2003/HĐTP-TANDTC ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về “Khoản tiền chênh lệch giữa giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác”. Cụ thể trong trường hợp này bên mua bán đều có lỗi, vì hai bên đều biết lúc mua bán đất hồ tôm chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bên bán, vợ không ký tên, nhưngGiấy chuyển đổi hồ nuôi tôm” lại ghi: Vợ chồng tôi đã bàn bạc và nhất trí chuyển đổi lại cho anh H.

 

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ nhưng đã buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn đất hồ nuôi tôm và xử lý về hậu quả không đúng với quy định của pháp luật khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

 

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 42/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 05/4/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử huỷ toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 13/2018/DS-PT ngày 05/9/2018 của TAND tỉnh Q và Bản án sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 23/5/2018 của TAND thị xã B; giao hồ sơ cho TAND thị xã B giải quyết lại vụ án.

 

Vụ thứ hai: Việc dân sự “Yêu cầu xác định phần sở hữu riêng trong khối tài sản chung” giữa người yêu cầu ông Nguyễn Hữu P với người bị yêu cầu bà Trần Thị D.

 

Năm 2015, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh G thụ lý giải quyết việc thi hành án đối với người phải thi hành là bà Trần Thị D. Các khoản phải thi hành án gồm: án phí 10.080.000 đồng và tiền bà D phải trả nợ là 442.600.000 đồng.

 

Quá trình thi hành án xác định: Bà D và ông Th sở hữu, sử dụng tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa số 09, tờ bản đồ 26, diện tích 342,6m2 và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà cấp 4 diện tích 98,6m2 tại 218 Hoàng Văn Thụ, thị xã A, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555697 ngày 25/8/2010.  Ngày 09/2/2015, ông Nguyễn Hữu P, Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh G có đơn yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu riêng của bà D trong khối tài sản chung nêu trên.

 

Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2015/QĐ-VDS ngày 21/9/2015, Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh G xác định bà D được ½ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 09, tờ bản đồ số 26 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555697 ngày 25/8/2010, diện tích 342,6m2 và được quyền sở hữu ½ căn nhà cấp 4 có diện tích xây dựng là 98,6m2 gắn liền thửa đất nêu trên.

 

Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh G tiến hành cưỡng chế, kê biên, bán đấu giá tài sản, nhưng bị ông Th khiếu nại. Chi cục Thi hành án xác định còn một số tài sản khác chưa được giải quyết theo Quyết định số 01/2015/QĐ-VDS nêu trên nên đã hủy kết quả kê biên, bán đấu giá, giao tài sản lại cho chủ sở hữu.

 

Tại Biên bản kê biên, xử lý tài sản ngày 12/01/2016 xác định: Tài sản gắn liền diện tích đất tại thửa đất số 09, tờ bản đồ số 26, diện tích 342,6m2 gồm có: 01 căn nhà cấp 4 (có 01 tầng và 01 tầng hầm kết cấu khung bê tông cốt thép...) diện tích xây dựng 107,695m2, tổng diện tích sàn 215,39m2; 01 nhà ở phụ có kết cấu tường xây gạch, mái lợp tôn, nền lát gạch bát tràng; 01 nhà bếp; 01 nhà tắm; 01 nhà vệ sinh. Nhà phụ, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh xây dựng trái phép trên diện tích đất trồng cây lâu năm, tổng diện tích xây dựng là 88,31m2. Ngoài ra, còn có 01 giếng nước, tường rào xây gạch, cổng sắt và cây cối. Như vậy, tài sản thực tế trên đất không phải chỉ có 01 căn nhà cấp 4 diện tích xây dựng 98,6m2 như Quyết định giải quyết việc dân sự nêu trên.

 

Từ sự việc trên nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thực tế của ông Th, bà D tại 218 Hoàng Văn Thụ, thị xã A, mà chỉ căn cứ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết vụ án và xác định bà Dung được sở hữu ½ quyền sử dụng đất thửa số 09, tờ bản đồ số 26, diện tích 342,6m2 và được quyền sở hữu ½ căn nhà cấp 4 diện tích 98,6m2 gắn liền thửa đất nêu trên là chưa phù hợp thực tế, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà D, ông Th và những người liên quan khác, đồng thời gây khó khăn cho công tác thi hành án. Như vậy là Quyết định số 01/2015/QĐ-VDS ngày 21/9/2015 vi phạm điểm a, khoản 1 Điều 326 BLTTDS về một trong những căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm đó là: “Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự”, nên cần phải hủy quyết định này để giải quyết lại.

 

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 44/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 11/4/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử huỷ toàn bộ Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2015/QĐ-VDS ngày 21/9/2015 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh G.

 

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 05/7/2019 với những căn cứ chứng minh cụ thể, lập luận sắc bén và tranh luận sôi nổi về từng nội dung kháng nghị, nêu rõ những vi phạm của Tòa án cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đã bảo vệ thành công 02 kháng nghị giám đốc thẩm nêu trên, được Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật. Qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự./.

 

                                                                                                                                                                   Tác giả
                                                                                                                                                                   Luật gia: THÁI VĂN ĐOÀN

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

 

Hôm nay: 3855
Tháng 3/2020: 16077
Năm 2020: 26842
Tổng: 740445