Một số vấn đề nhận thức về Quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự (Nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Kiểm sát nhân dân)

23/03/2020
Xem với cỡ chữ:

1. Lịch sử hình thành Quyền công tố:

 

Khi xã hội phân chia giai cấp thì Nhà nước xuất hiện. Thời kỳ đầu, bộ máy Nhà nước tổ chức một cách đơn giản và phân định chức năng của các cơ quan Nhà nước chưa được rõ ràng. Nhà nước chiếm hữu nô lệ chưa có Tòa án, việc giải quyết tranh chấp do một số người đứng đầu giai cấp thống trị kiêm nhiệm. Tuy nhiên, với sự phát triển và kiện toàn bộ máy Nhà nước, ở xã hội chiếm hữu nô lệ vào thế kỷ 3 trước công nguyên, lần đầu tiên Nhà nước La Mã cổ đại thành lập cơ quan xét xử (Tòa án) và tách khỏi cơ quan hành chính (Bách khoa toàn thư, tập 22NXB Macxcơva 1975). Như vậy, khái niệm “xét xử” và “tòa án” xuất hiện cuối thời kỳ chiếm hữu nô lệ và chỉ ở một số nước phát triển, còn như cả ở Pháp thì cơ quan xét xử mãi đến cuối thời kỳ phong kiến mới được thành lập và tách khỏi cơ quan hành chính. Trước đó, việc xét xử do các quan chức trong triều đình kiêm nhiệm và là người đại diện cho quyền lực Nhà Vua chứ không phải đại diện cho công quyền.

 

Thế kỷ 17, 18 các nhà khoa học pháp lý của Pháp đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến cải cách bộ máy Nhà nước. Họ đã đưa ra thuyết tam quyền phân lập, nguyên tắc thẩm phán bầu, nguyên tắc suy đoán vô tội và đòi hỏi hệ thống cơ quan Tư pháp phải tách ra khỏi cơ quan hành pháp và độc lập xét xử… Đây thực sự là một bước nhảy vọt có ý nghĩa to lớn đối với hệ thống cơ quan Tư pháp của xã hội loài người. Là con đẻ của cuộc cách mạng này, Viện công tố đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Pháp, còn ở Nga, Viện công tố được thành lập năm 1772.

 

Cuối xã hội chiếm hữu nô lệ đầu xã hội phong kiến, bộ máy Nhà nước ngày càng hoàn thiện và phát triển. Một số Nhà nước phong kiến đã lập Tòa án nhân danh Nhà nước để xét xử những vụ án xâm phạm đến lợi ích Nhà Vua. Do đó, thủ tục xét xử của Tòa án dần dần được hình thành. Tố tụng xét xử của Tòa án được chiếu theo ngôi thứ, địa vị trong xã hội. Tòa án của nhà thờ chiếm giữ địa vị rất quan trọng, thường nhân danh “đấng tối cao”, “thượng đế” để xét xử và trừng phạt những người vi phạm tới giáo huấn nhà thờ. Đến thế kỷ 13 – 14 với sự tách Tòa án ra khỏi cơ quan hành pháp, sự phát triển của hệ thống pháp luật quyền công tố mới xuất hiện.

 

Hệ thống cơ quan Tư pháp và tố tụng của xã hội phong kiến Tây Âu với sự phát triển của các Tòa án của Nhà Vua, sự ra đời của các tổ chức luật sư và đặc biệt là sự xuất hiện Viện công tố đã nói lên sự phát triển vượt bậc của pháp luật lúc bấy giờ.

 

Tố tụng hình sự Nhà nước tư sản phát triển mạnh mẽ, có quy định về quyền công tố thuộc về Tòa án hay còn gọi là thẩm phán công tố. Quyền công tố của các nước thuộc hệ thống Anh – Mỹ (bồi thẩm đoàn) rất rộng. Cơ quan thực hiện quyền công tố Nhà nước trong các nước tư sản gọi là Viện công tố (Parquet). “Viện công tố có chức năng đại diện cho quyền lợi xã hội của Nhà nước trước Tòa án, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ, những hành vi phạm tội được xử lý nghiêm minh, công tác xét xử đúng đắn. Về hình sự Viện công tố truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án.

 

Ở Pháp, Viện công tố được thành lập ở các Tòa án sơ thẩm, Tòa án đại hình, ở các Tòa án phúc thẩm”.

 

Hệ thống cơ quan VKS Nga được thành lập ngày 28/5/1922 và tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo ngành. Các nước XHCN (cũ) được thành lập sau đó (1945).

 

Tuy không xuất hiện cùng với Nhà nước nhưng lịch sử quyền công tố gắn liền với sự phát triển của Nhà nước, về sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Từ khi xuất hiện quyền công tố Nhà nước luôn luôn thể hiện bản chất của Nhà nước đó là việc khẳng định vai trò, vị trí của Nhà nước trong việc tấn công tội phạm.

 

2.Lịch sử quyền công tố Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay:

 

Ngay từ khi được thành lập, Nhà nước ta đã sử dụng bộ máy công tố làm công cụ bảo vệ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Với mục đích đó, ở mỗi giai đoạn cách mạng, bộ máy công tố và nhiệm vụ quyền hạn của nó được tổ chức và quy định có khác nhau. Sắc lệnh 33/SL ngày 13/9/1945 thiết lập các Tòa án quân sự, đã quy định các ủy viên Quân sự (công tố ủy viên) thay mặt Nhà nước buộc tội các bị cáo. Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 thiết lập Tòa án thường có quy định “Tòa đệ nhị gồm có: một Chánh án, một Biện lý, một Dự thẩm” (Điều 15); “Tại phiên tòa, Chánh án ngồi xử, Biện lý ngồi ghế công tố viện” (Điều 16); “ông Chưởng lý hoàn toàn giữ quyền truy tố và hành động” (Điều 51). Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 xác định rõ vị trí của công tố, quy định cụ thể nhiệm vụ của Chưởng lý và biện lý “Ông Biện lý bắt buộc phái có mặt tại các phiên tòa hình”; “Khi cuộc thẩm vấn tại các phiên tòa xong rồi, ông Biện lý thay mặt xã hội buộc tội bị can” (Điều 26). “Về việc hình khi án đã tuyên rồi, ông Biện lý cũng như những người đương sự có quyền kháng cáo” (Điều 28).

 

Một số sắc lệnh khác như Sắc lệnh 131/SL ngày 20/7/1947, Sắc lệnh số 19/SL ngày 16/02/1947. Theo các sắc lệnh nêu trên thì hệ thống Tòa án nhân dân được thành lập ở 3 cấp: Tòa sơ thẩm, ở cấp quận, huyện; Tòa đệ nhị cấp ở cấp tỉnh và thành phố; Tòa thượng thẩm ở 3 khu vực: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ. Bộ Tư pháp là cơ quan Trung ương quản lý Tòa án các cấp. Ngạch thẩm phán chia làm 2 loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội (Thẩm phán buộc tội gọi là Công tố ủy viên). Hệ thống công tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa đệ nhị cấp do một viên Chưởng lý đứng đầu. Các công tố viên có nhiệm vụ:

 

- Tư pháp cảnh sát (điều tra)

 

- Thực hành quyền công tố

 

- Cảnh sát điều tra

 

Mặc dù còn nằm trong Tòa án, nhưng công tố viên thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập và chịu sự lãnh đạo thống nhất của viên Chưởng lý. Ngoài nhiệm vụ đại diện cho công quyền; thực hiện quyền công tố trước tòa, các cấp ủy viên công tố còn có quyền giám sát hoạt động điều tra của tư pháp công an (nay là cơ quan điều tra).

 

Tại Hội nghị lần thứ 14 (tháng 11 năm 1958) Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chủ trương tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Trong tình hình chung đó, từ Bộ máy Nhà nước nói chung, quyền công tố Nhà nước nói riêng được tăng cường và cải cách thêm một bước mới. Tháng 4 năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Viện công tố nhân dân Trung ương, tách hệ thống Viện công tố ra khỏi Bộ Tư pháp. Quyết định này đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của Viện công tố nói chung và quyền công tố nói riêng. Điều đó đã ghi nhận vào Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nhiệm vụ chủ yếu của Viện công tố là đưa các vụ án hình sự ra tòa. Trong thời kỳ năm 1945 tới khi Nhà nước ta ban hành bản Hiến pháp thứ 2 vào tháng 12 năm 1959 trong tố tụng hình sự, chức năng công tố được giao Thẩm phán buộc tội. Từ năm 1961 trên cơ sở các quy định của chương 8 Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức VKSND năm 1960, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ra đời với nhiều chức năng.

 

Ở nước ta từ năm 1945 đến nay, một trong nhiều nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự luôn thể hiện một cách nhất quán là nguyên tắc công tố” .

 

Theo quy định của Hiến pháp năm 1959 thì có thể hiểu rằng các cơ quan Tư pháp là Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. “Hai cơ quan Tư pháp này không còn trực thuộc Hội đồng chính phủ nữa mà chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực Nhà nước đó là Quốc hội”.

 

Sự phát triển của các nhiệm vụ cách mạng mới đặt ra những yêu cầu mới nhằm củng cố và tăng cường nền pháp chế XHCN. Để đảm bảo pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, Nhà nước ta cần thiết phải có bộ máy chuyên môn để giám sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện để xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

 

Vấn đề này Lénine đã nói rằng có pháp luật là tốt, nhưng ngoài ra không thể thiếu một bộ máy quyền lực để đảm bảo việc tuân theo pháp luật. Đó là lý do Đảng và Nhà nước ta chủ trương thành lập VKSND. Tờ trình về Luật Tổ chức VKSND năm 1960 nói rõ “Nhu cầu của cuộc cách mạng XHCN đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích và hoạt động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước, cũng như giữa các ngành Nhà nước với nhau. Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng CNXH sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức ra VKSND để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế XHCN, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.

 

Học thuyết của Lénine về pháp chế XHCN và về vị trí của VKS được trình bày trong tác phẩm nổi tiếng: “Bàn về “song trùng” trực thuộc và pháp chế” là một bộ phận quan trọng trong học thuyết chung của chủ nghĩa Marx – Lénine về Nhà nước và cách mạng. Do đó, khi xây dựng về Hiến pháp 1959, Nhà nước ta không xây dựng bộ máy tư pháp giống như trong Hiến pháp 1946 mà thiết lập hệ thống VKSND và chỉ có trong bộ máy Nhà nước XHCN. Tại Chương 8 từ Điều 105 đến Điều 108 Hiến pháp 1959 lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta đã quy định chế định về VKSND. Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức VKSND được công bố ngày 26/7/1960 với 6 chương và 25 điều. Tiếp theo đó, hai pháp lệnh ngày 15/7/1960 và ngày 15/01/1970 quy định cụ thể về tổ chức VKSND tối cao.

 

Như vậy, ở giai đoạn này, hệ thống cơ quan Tòa án và cơ quan thực hành Quyền công tố (VKS) không thuộc cơ quan hành pháp nữa (Bộ Tư pháp, Chính phủ). Hệ thống cơ quan Tư pháp (Tòa án, VKSND) được tách khỏi và độc lập với cơ quan Tư pháp.

 

Quyền công tố của VKSND nước ta theo chiều dài lịch sử và ngày càng phát triển theo chiều sâu. Nhìn nhận, đánh giá các quy định về quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được nâng lên một bước rõ rệt trong Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức VKSND năm 1981.

 

Điều 138 Hiến pháp năm 1980 quy định: “VKSND tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

 

Các VKSND địa phương, các VKS Quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình”.

 

Điều 1, Điều 3, Luật Tổ chức VKSND năm 1981 cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980. Việc ban hành Luật Tổ chức VKSND năm 1981 thay thế Luật Tổ chức VKSND năm 1960 là sự thể hiện quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố Nhà nước. Trong Điều 1, Luật Tổ chức VKSND năm 1981 có quy định: “VKSND tối cao, các VKSND địa phương, các VKSQS trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện quyền công tố. Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án. Hiện nay chưa có quy định về thủ tục tư tố. Trong một số tội phạm nhất định như tội phạm vu khống, làm nhục và một số tội phạm khác, việc tiến hành các vụ án đó theo thủ tục tư tố”.

 

Điều 137 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1, Điều 3, Điều 15, Điều 16 Luật Tổ chức VKSND năm 1992 quy định một cách cụ thể về quyền công tố của VKSND trong TTHS. Đây là một sự hoàn thiện có tính hệ thống về mặt lập pháp. Lần đầu tiên, quyền công tố được nhắc đến ở rất nhiều điều luật và quyền công tố được xác định như là một quyền năng được quy định trong chương 4 (Công tác kiểm sát xét xử). Rõ ràng, quyền công tố được xác định ở giai đoạn xét xử sơ thẩm là điều không thể bác bỏ được.

 

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật khác liên quan, Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, góp phần tích cực vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

 

Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, trong bối cảnh tình hình đất nước và quốc tế có nhiều khó khăn, thách thức, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Nền kinh tế có bước chuyển biến tích cực, tiếp tục phát triển và ổn định. Một số lĩnh vực văn hoá, xã hội có tiến bộ. Quốc phòng, an ninh, trật tự được củng cố; độc lập, chủ quyền của đất nước được giữ vững. Vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém, gặp nhiều khó khăn. Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều vấn đề bức xúc, đáng lo ngại.

 

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã tổng kết 15 năm đổi mới và có những chủ trương quan trọng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách tư pháp. Nghị quyết Đại hội IX nêu rõ: Phải cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan, sai. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra kết luận về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó nêu rõ: “Cần sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân”.

 

Thể chế hoá chủ trương, quan điểm cải cách bộ máy nhà nước của Đảng, Quốc hội khoá X đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Theo đó, tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhưng thu hẹp phạm vi chức năng kiểm sát là chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp, không thực hiện công tác kiểm sát trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung).

 

Để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nghị quyết nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...”.

 

Thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng 6 công tác sau (Điều 3):

 

“1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

 

2. Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

 

3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;

 

4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

 

5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;

 

6. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù”.

 

So với các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981 và 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã có sự điều chỉnh đáng kể chức năng của Viện kiểm sát. Kể từ đây, Viện kiểm sát không thực hiện công tác kiểm sát chung để tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Lần đầu tiên, Luật đã phân định rõ phạm vi, nội dung của chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (các Điều 13, 14, 17 và 18). Có thể nói, đây là bước thay đổi lớn nhất về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát kể từ ngày thành lập Viện kiểm sát nhân dân (1960). Căn cứ quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thu gọn đầu mối Cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố; chỉ còn lại Cục Điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

 

Cùng với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những thay đổi mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là trách nhiệm phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và trách nhiệm thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Viện kiểm sát cấp huyện có quyền truy tố các tội phạm có mức hình phạt đến 15 năm tù.

 

Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình cải cách tư pháp, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Trước mắt Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án”.

 

Sau khi Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trình Quốc hội thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Luật 63/2014/QH13 ngày 24/11/2014). Về cơ bản Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, song có những điểm mới cơ bản sau:

 

Thứ nhất, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 khẳng định rõ hơn vị trí của Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Điều 2).

 

Thứ hai, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định rõ phạm vi, nội dung, mục đích của từng chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Về chức năng thực hành quyền công tố, đã quy định cụ thể: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. Về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp: Luật năm 2014 đã quy định chặt chẽ hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; kiểm sát trong giai đoạn truy tố; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp.

 

Thứ ba, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã làm rõ nội dung các khâu công tác và bổ sung quy định về các công tác phục vụ thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân. Cụ thể: Luật năm 2014 đã phân định lại một cách rõ ràng, hợp lý, cụ thể các khâu công tác thực hiện chức năng, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong từng khâu công tác và bổ sung quy định phân biệt rõ các công tác phục vụ thực hiện chức năng, như: thống kê tội phạm; nghiên cứu khoa học; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng; hợp tác quốc tế; phổ biến, giáo dục pháp luật.

 

Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: “Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự thuộc về Viện kiểm sát”.

 

Qua đây chúng ta thấy lịch sử quyền công tố ở nước ta gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện của Bộ máy Nhà nước. Cách tổ chức thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước luôn được thay đổi phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn.

 

3. Chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự:

 

Luật La Mã cổ đại có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Trong luật La Mã cổ đại đã phân chia ra thành hai ngành luật cơ bản khác nhau, đó là công pháp và tư pháp “Công pháp là luật pháp có liên quan đến tình trạng Nhà nước La Mã và tư pháp liên quan đến lợi ích từng công dân” .Như vậy, ta khẳng định rằng, quy phạm công pháp bảo vệ lợi ích Nhà nước, các quy phạm tư pháp bảo vệ lợi ích của công dân. Do có sự phân chia như vậy nên hoạt động xét xử cũng được chia thành hai sự phân biệt khác nhau: hoạt động xét xử những vi phạm liên quan đến lợi ích Nhà nước và xã hội và hoạt động xét xử những vi phạm liên quan đến lợi ích của công dân. Có thể khẳng định rằng luật La Mã cổ đại đã phân biệt hành vi tội phạm với vi phạm dân sự, án hình sự với án dân sự, tố tụng hình sự với tố tụng dân sự.

 

Do xã hội phong kiến có nét đặc thù riêng biệt của nó, đó là mối quan hệ hàng hóa kém phát triển nên nảy sinh chế định pháp luật mang màu sắc phân biệt đẳng cấp và đặt quyền. Khoa học pháp lý tư bản đã tiếp nhận sự phân chia này. Các quy phạm của công pháp bảo vệ lợi ích chung của giai cấp tư sản và quy phạm tư pháp đảm bảo lợi ích cho từng nhà tư bản hoạt động kinh doanh với nhau.

 

Các luật gia Xô Viết cho rằng: dưới chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ giữa các quy phạm công pháp và tư pháp không đối lập nhau mà bổ trợ cho nhau. Tuy nhiên, khoa học pháp lý Xô Viết vẫn chia các ngành luật dựa vào các tính chất của quan hệ xã hội như luật hình sự, luật dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự…

 

Trong khoa học pháp lý Xô Viết nguyên tắc công tố có nội dung: toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự chủ yếu và trước hết vì lợi ích Nhà nước, lợi ích chung của xã hội. Nguyên tắc công tố được nhắc đến nhằm không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ người nào. Chính vì vậy, mà Nhà nước – thông qua các đại diện của mình – các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền quyết định việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.

 

Trở lại việc đề cập đến chức năng tố tụng của VKS. Chức năng truyền thống là buộc tội. Trong tố tụng hình sự truyền thống thì có 3 chức năng chủ yếu: Buộc tội, bào chữa và giải quyết vụ án.

 

Chức năng buộc tội (chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự) là một dạng tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm sự phán xử và hình phạt của người đó.

 

Chức năng bào chữa: Người bị buộc tội có quyền bào chữa (được luật thừa nhận) nhằm chống lại sự buộc tội. Người thực hiện hành vi phạm tội có thể tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

 

Chức năng giải quyết vụ án: Giải quyết vấn đề lỗi của bị cáo, có tội hoặc không có tội.

 

Chức năng buộc tội và chức năng bào chữa xuất hiện cùng một thời điểm, từ khi khởi tố bị can, khi bắt giữ người bị tình nghi phạm tội. Trong tố tụng hình sự Việt Nam, chức năng bào chữa xuất hiện từ khi Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố , người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt (Điều 57, 58 luật hiện hành). Tuy nhiên, cơ quan tiến hành tố tụng khi tìm kiếm chứng cứ buộc tội phải đồng thời thu thập những chứng cứ gỡ tội cho người bị nghi là phạm tội. Đó là một nguyên tắc. Ở giai đoạn trước khi xét xử vụ án, tại phiên tòa, chức năng bào chữa và buộc tội được các chủ thể của các bên tiến hành một cách độc lập nhằm thu thập chứng cứ cần thiết để chuẩn bị cho việc thực hiện chức năng của mình trong giai đoạn xét xử vụ án. Các giai đoạn trước và sau khi xét xử vụ án có thể có tranh luận giữa các chủ thể, song những tranh luận đó chỉ phiến diện và không đi đến kết thúc, bởi vì thiếu một chủ thể của nó là Hội đồng xét xử và chức năng xét xử.

 

Tất cả các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng ở các giai đoạn này đều chỉ có một giả thiết mang tính đơn phương tuy có giá trị pháp lý bắt buộc đối với một số chủ thể xác định, nhưng phải chờ sự phán xét cuối cùng của Tòa án” .

 

Nói như trên không có nghĩa là mọi sự quyết định của vấn đề buộc tội và bào chữa chỉ đi đến chỗ giải quyết, chỗ kết thúc của nó là giai đoạn xét xử. Trong giai đoạn điều tra, sự giải quyết của hai chức năng trên có thể dẫn đến đình chỉ vụ án.

 

Chức năng xét xử xuất hiện muộn hơn chức năng buộc tội và bào chữa. Chức năng này chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là Tòa án (Hội đồng xét xử). Đây là một yếu tố có ý nghĩa quyết định trong quá trình tranh tụng và chỉ có thể thực hiện được tại phiên tòa. Có thể nói nét đặc trưng nhất trong tố tụng hình sự là có sự tham gia đồng thời và đầy đủ nhất các chủ thể của các bên: buộc tội, bào chữa và xét xử trong giai đoạn xét xử ở Tòa án.

 

Bên cạnh ba chức năng truyền thống như đã nêu ở trên, trong tố tụng hình sự có VKS tham gia, còn có chức năng thứ tư và chức năng này thuộc về VKS: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Xuất phát từ nguyên lý của Lénine cho rằng: VKS là cơ quan bảo đảm tính thống nhất của pháp chế, bảo đảm cho ý chí của chính quyền Trung ương được thực hiện ở bất kỳ địa phương nào, cấp nào, cho dù đặc điểm của địa phương có khác nhau thế nào đi nữa, thì “pháp chế chỉ có một”.

 

Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự chức năng này thuộc về Viện trưởng VKS và được thực hiện trong tất cả các giai đoạn trong TTHS. Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS được thể hiện dưới nhiều hình thức và được ghi nhận cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015. VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình TTHS nói chung và trong giai đoạn xét xử nói riêng.

 

Như vậy, chức năng tố tụng của VKS trong tố tụng hình sự được thể hiện là chức năng buộc tội. Chức năng buộc tội này gắn liền với nó là chức năng bào chữa. “Có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa thì hoạt động tố tụng được coi là hoạt động đơn chiều hay một chiều, có tính kết buộc chức không có tính tranh tụng. Còn ngược lại, chức năng bào chữa không thể tồn tại mà không có chức năng buộc tội” .

 

Trong lý luận TTHS Xô Viết không có sự thống nhất về khái niệm “buộc tội”. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta chỉ sử dụng khái niệm truy tố khi nói đến VKS. Còn trong Bộ luật TTHS Nga, cả cơ quan điều tra VKS đều thực hiện chức năng buộc tội. Nhưng khi VKS thực hiện chức năng buộc tội này ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, nhân danh Nhà nước, chỉ có một mình VKS duy nhất – thì gọi là công tố.

 

Thí dụ: Phatculin-Ph.H cho rằng “Buộc tội – là sự tổng hợp các hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành động và không hành động) mà cơ quan tiến hành tố tụng đã kết luận đối với một người cụ thể”. Hoặc theo tác giải Tren-xop M.A, Xtro-Gôvich M.C, Xavitxki V.M: Buộc tội – là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng nhằm kết tội một người cụ thể nào đó đã thực hiện tội phạm.

 

Hoặc Rakhunốp R.D: Buộc tội là hoạt động của công tố (người buộc tội nhân danh Nhà nước) tại phiên tòa nhằm chứng minh lỗi của bị cáo và để Tòa án tuyên bản án kết tội bị cáo.

 

Trong lý luận TTHS Xô Viết, nhiều tác giải đã phân biệt khái niệm buộc tội ở cả hai góc độ. Buộc tội ở góc độ nội dung và buộc tội ở góc độ hình thức. Buộc tội, hiểu ở góc độ nội dung là tổng hợp các hành vi trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, phải chịu hình phạt và có dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể do Luật hình sự quy định mà cơ quan điều tra phát hiện và kết buộc cho bị cáo theo thủ tục và trình tự do Luật quy định. Như vậy, các hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể là yếu tố xác định nội dung của sự buộc tội được thể hiện trong các văn bản tố tụng khác nhau, trước hết là trong quyết định khởi tố bị can.

 

Buộc tội (ở góc độ nội dung) định hướng cho hoạt động tố tụng có mục đích chứng minh cho bị cáo là người thực hiện một cách có lỗi những hành vi mà cơ quan điều tra đã kết buộc cho bị cáo. Hoạt động tố tụng này cũng diễn ra theo một trình tự do Luật quy định. Hoạt động này chính là sự buộc tội ở góc độ tố tụng (hay hình thức).

 

Hai yếu tố này gắn bó với nhau. Hoạt động buộc tội ở góc độ hình thức không tách rời sự tồn tại của bị can trong tố tụng (sự xuất hiện bị can trong tố tụng) mà bị can chính là người mà cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can. Quyết định này hàm chứa sự buộc tội ở góc độ nội dung.

 

Nếu đứng dưới góc độ của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, ta sẽ thấy mối ràng buộc giữa hai yếu tố buộc tội này. Buộc tội ở góc độ nội dung và buộc tội ở góc độ hình thức (hoặc tố tụng), giữa hoạt động tố tụng chứng minh lỗi của bị can và nội dung những hành vi mà bị cáo thực hiện quyền bào chữa là quyền biết mình bị khởi tố về tội gì (Điều 60 BLTTHS năm 2015). Nói một cách khác, bị can được biết thực chất sự buộc tội ở góc độ nội dung mà cơ quan điều tra đã kết buộc cho mình. Để cho bị can thực hiện quyền này, Luật quy định trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ: “Bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào của BLHS, thời gian địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm” (Điều 179 BLTTHS). Nhờ vậy, bị can mới có thể thực hiện quyền bào chữa ngay ở giai đoạn trước khi bị khởi tố để điều tra và hoàn toàn có thể tin rằng, việc truy tố và xét xử sau này đối với bị can bị giới hạn trong phạm vi buộc tội này (Điều 298 BLTTHS).

 

Chức năng buộc tội là chức năng tố tụng luôn khống chế lại một người cụ thể, là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

 

Người buộc tội (cơ quan thực hiện chức năng buộc tội) – theo luật TTHS – có nhiệm vụ đưa ra sự cáo buộc cụ thể đối với những người cụ thể và phải chứng minh sự đúng đắn của lời cáo buộc đó.

 

Công tố là cội nguồn từ hoạt động buộc tội của cơ quan điều tra. Nhưng công tố là hình thức thực hiện chức năng tố tụng buộc tội có những thay đổi về chất so với hoạt động của cơ quan điều tra. Sự buộc tội về nội dung (trong hình thức là bản cáo trạng) trở thành hiện thực trước phiên tòa xét xử thông qua các phương pháp và biện pháp tố tụng khác hẳn so với giai đoạn điều tra.

 

Quyền công tố được xác định như là một quyền năng độc lập gắn với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong tố tụng hình sự. Quyền công tố được thể hiện là thực hiện chức năng của Nhà nước, thay mặt Nhà nước của VKSND trong việc đưa kẻ phạm tội (truy tố) ra trước Tòa án để xét xử. Đây là chức năng đặc thù của VKSND trong tố tụng hình sự và chỉ có VKS mới có quyền thực hiện chức năng này. Theo Điều 159 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, thực hành quyền công tố xuất hiện ngay từ khi tiếp nhận trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm./.

 

                                 Người viết bài:

ThS. Nguyễn Xuân Thanh

                                Viện kiểm sát ND cấp cao tại Đà Nẵng