Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện-Những vấn đề đặt ra

25/08/2017
Xem với cỡ chữ:

Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Tòa án cấp huyện) là văn bản có tính pháp lý quan trọng, do Tòa án nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên án, quyết định những vấn đề đụng chạm đến các quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, nhằm bảo vệ pháp luật, công lý, công bằng và bình đẳng trong xã hội. Song thực tế cho thấy không ít bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện không đúng pháp luật, vì vậy công tác kiểm sát bản án, quyết định cũng có vai trò quan trọng nhằm bảo đảm sự chính xác, có căn cứ, đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần bảo đảm pháp luật thực hiện thống nhất.

1.    Cơ sở pháp lý của việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện.
Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu cơ sở pháp lý của việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện. Trên cơ sở nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát đã được hiến định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” (khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014 cũng đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn này và trên cơ sở đó quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn “kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án” tại khoản 2 Điều 19 và khoản 2 Điều 27 khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự và kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (gọi tắt là vụ việc dân sự). Để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này các Luật tố tụng chuyên ngành đều quy định trách nhiệm của Tòa án phải gửi bản án, quyết định sơ thẩm cho Viện kiểm sát. Cụ thể là tại Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định việc giao các quyết định của Tòa án: “Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp”. Điều 229 BLTTHS năm 2003 quy định về việc giao bản án: “Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp...”. Tại khoản 2 Điều 214 và khoản 3 Điều 217 BLTTDS năm 2015 đều quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, còn đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thì được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định (Điều 212 BLTTDS năm 2015). Việc Tòa án gửi bản án, quyết định hành chính sơ thẩm được quy định tại các Điều 196 Luật TTHC năm 2015: “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải cấp, gửi bản án cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp” và những quy định tương ứng... 
Trên cơ sở đó, Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự; Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính đã quy định trách nhiệm cụ thể của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên đối với việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án. Theo đó, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm kiểm sát đầy đủ các bản án, quyết định do Tòa án chuyển đến. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (hoặc kể từ ngày nhận được bản án trong trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa đối với vụ án dân sự), 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm kèm theo phiếu kiểm sát (theo mẫu) cho Viện kiểm sát cấp trên để phối hợp kiểm sát, giải quyết theo thẩm quyền... để thực hiện các quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu.

2.     Kết quả công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện.
Trên cơ sở những quy định của pháp luật và của ngành kiểm sát, Viện kiểm sát cấp huyện và Viện kiểm sát cấp tỉnh đã quan tâm, chú trọng, không ngừng nâng cao chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án. Thực tế cho thấy nhiều  bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện có nội dung và hình thức không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức ở nhiều mức độ khác nhau do nhiều nguyên nhân khách quan như các quy định pháp luật còn chung chung hoặc do nguyên nhân chủ quan như về năng lực, trình độ của Thẩm phán cấp huyện (nhất là đối với những vụ án phức tạp), do bị chi phối nhiều mối quan hệ ở địa phương công tác (nhất là đối với án hành chính, án hình sự về kinh tế chức vụ...) hoặc do các yếu tố về đạo đức nghề nghiệp... Vì vậy, qua công tác kiểm sát này, Viện kiểm sát đã thực hiện quyền năng kháng nghị phúc thẩm, là quyền năng đặc thù, duy nhất mà Đảng và Nhà nước tin tưởng giao cho Viện kiểm sát, tận dụng triệt để “cây gậy” này để kháng nghị phúc thẩm có chất lượng chuyên môn cao, kịp thời khắc phục những vi phạm, thiếu sót của Tòa án, phần lớn kháng nghị phúc thẩm được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận. 
Những vi phạm phổ biến được phát hiện như xác định không đúng tội danh, không đúng khung hình phạt, cho hưởng án treo không đúng, không thu thập đầy đủ chứng cứ phạm tội ... trong lĩnh vực hình sự; thiếu sót người tham gia tố tụng, không xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp, không đối chất khi lời khai các đương sự mâu thuẫn, chia thừa kế, chia tài sản chung không đúng, giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự... thuộc lĩnh vực dân sự; xác định không đúng người bị kiện, đối tượng bị khởi kiện... trong lĩnh vực hành chính.
Đối với những trường hợp vi phạm ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật tổ chức VKSND thì Viện kiểm sát các cấp đã thực hiện quyền kiến nghị hoặc tập hợp kiến nghị (đối với những vi phạm ít nghiêm trọng nhưng có tính lặp đi lặp lại như vi phạm thời gian gửi bản án, hình thức bản án, quyết định, lỗi chính tả...). Không ít trường hợp Viện kiểm sát các cấp còn tập hợp những dạng vi phạm thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án Viện kiểm sát đã ban hành nhiều thông báo rút kinh nghiệm chung cho địa phương hoặc toàn ngành kiểm sát. 
Qua theo dõi kháng nghị phúc thẩm của VKSND cấp huyện và cấp tỉnh thuộc 12 tỉnh miền Trung- Tây nguyên thuộc phạm vi quản lý của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng nhận thấy thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện trong năm 2016 Viện kiểm sát 2 cấp đã kháng nghị phúc thẩm được 341 vụ việc (trong đó hình sự: 131 vụ/ 158 bị cáo; dân sự: 205 vụ việc; hành chính: 05 vụ). Điển hình là VKSND tỉnh Đắk Lắk kháng nghị phúc thẩm hình sự đến 41 vụ/ 45 bị cáo, tỷ lệ chấp nhận đạt 100%; dân sự kháng nghị phúc thẩm đến 61 vụ, tỷ lệ chấp nhận đạt đến 96% số vụ đã xét xử; nhiều tỉnh tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm được chấp nhận 100% trong số án đã xét xử như Quảng Ngãi, Quảng Trị, Bình Định), ban hành 113 kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm, ngoài ra còn có 11 báo cáo đề nghị VKSND cấp cao kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. 

3.    Những vấn đề đặt ra trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện.
Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác kiểm sát bản án, quyết định này, không ít vi phạm chưa được phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm, trong khi đó tỷ lệ án phúc thẩm bị sửa, hủy (do có kháng cáo của đương sự) vẫn còn cao, cá biệt có trường hợp phát hiện vi phạm nhưng đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm, song xét tính chất, mức độ chưa đến mức kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (trong nhiều trường hợp khi xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với án dân sự, hành chính phải có đơn của đương sự thì mới kháng nghị), nên vẫn còn khoảng trống và những vi phạm này chưa được khắc phục triệt để. 
Nguyên nhân của tình trạng trên một phần cũng do nhiều quy định pháp luật còn chung chung nên kháng nghị rất khó bảo vệ, phần khác do năng lực của công chức, kiểm sát viên còn hạn chế, hoặc do chủ quan, thiếu chịu khó nghiên cứu, đọc bản án, quyết định, nhất là những bản án dài; nhiều trường hợp do quan hệ công tác hàng ngày, nên không ít Viện kiểm sát, Kiểm sát viên còn nể nang, xuôi chiều, bỏ qua những vi phạm của Tòa án, kéo theo đó là tình trạng cấp dưới không gửi bản án, quyết định lên Viện kiểm sát cấp trên (cấp tỉnh) hoặc có gửi những chậm, không còn thời gian để kháng nghị phúc thẩm (vì sợ cấp trên phát hiện kiểm điểm, phê bình...). Mặt khác, không ít Kiểm sát viên, Kiểm tra viên (nhất là những đồng chí mới bổ nhiệm hoặc mới được chuyển từ khâu công tác kiểm sát này sang khâu công tác kiểm sát khác), chưa nghiên cứu nắm kỹ, chưa chú trọng thực hiện nghiêm túc công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án theo tinh thần các Chỉ thị về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm nêu trên (cũng một phần do những chỉ thị này của ngành kiểm sát nên việc tìm kiếm để nghiên cứu, vận dụng cũng có những khó khăn nhất định, nên đã làm hạn chế hiệu quả của công tác kiểm sát này).
Nhiều phiếu kiểm sát bản án, quyết định do Kiểm sát viên tự đánh máy, rồi tự sửa chữa theo ý của mình nên dẫn đến việc ban hành không đúng mẫu, không đầy đủ các nội dung yêu cầu kiểm sát hoặc không có phần nội dung kiểm sát của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cũng ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.
Một số vụ việc do tính chất phức tạp, nếu chỉ thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định rất khó phát hiện được vi phạm của Tòa án (trong khi đó rất nhiều vụ việc trong lĩnh vực dân sự, vụ án hành chính Viện kiểm sát cùng cấp không tham gia giải quyết, không nghiên cứu hồ sơ từ đầu, như việc Tòa án quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ...), mà phải có hồ sơ vụ việc hoặc trực tiếp tham gia kiểm sát hoặc phải có đơn khiếu nại, đề nghị của đương sự thì mới có thể nghiên cứu phát hiện được vi phạm, thiếu sót của Tòa án, cũng làm hạn chế công tác kiểm sát bản án, quyết định này, nhất là đối với Viện kiểm sát cấp phúc thẩm chỉ kiểm sát trên cơ sở bản án, quyết định sơ thẩm và phiếu kiểm sát của Viện kiểm sát cấp huyện gửi lên, chứ không trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa như ở Viện kiểm sát cấp sơ thẩm.
Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014 và các luật tố tụng chuyên ngành, thì VKSND cấp cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện trong phạm vi quản lý, tuy nhiên lại không quy định việc Viện kiểm sát cấp huyện gửi bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp cho VKSND cấp cao để kiểm sát, nên cũng làm hạn chế khả năng của VKSND cấp cao trong việc tiếp cận phát hiện vi phạm thiếu sót để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, mà chủ yếu dựa trên báo cáo của Viện kiểm sát cấp tỉnh, cấp huyện thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của cấp sơ thẩm của Tòa án cấp huyện. Song nếu quy định Viện kiểm sát cấp huyện vừa gửi bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện cho Viện kiểm sát cấp tỉnh lại vừa gửi cho VKSND cấp cao thì lại phát sinh không ít những vấn đề cần bàn bạc, đánh giá, như VKSND cấp cao sẽ tiếp nhận kiểm sát quá nhiều bản án, quyết định (bên cạnh bản án quyết định sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh (chẳn hạn như trong năm 2016, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng đã kiểm sát 826 bản án, quyết định sơ thẩm và 454 bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh ở miền Trung- Tây nguyên (theo Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2016 của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng), trong khi lực lượng hiện nay còn rất mỏng và làm rất nhiều công tác khác, biên chế hiện nay của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng là 53 người, trong khi đó định khung biên chế là 130 người, đối với 02 VKSND cấp cao khác đều còn thiếu nhiều so với biên chế định khung, hơn nữa sẽ xuất hiện tình trạng trách nhiệm chung chung giữa Viện kiểm sát cấp tỉnh và VKSND cấp cao, nên cần có thời gian nghiên cứu làm sâu sắc thêm vấn đề này. 
Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự được ban hành đã lâu, khi ban hành Luật tổ chức VKSND năm 2014 có thêm cấp kiểm sát mới là VKSND cấp cao có chức năng, thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; tiếp đó BLTTHS năm 2015 đã quy định những căn cứ mới của việc gửi và kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, thì một số quy định tại chỉ thị này bộc lộ những bất cập, thiếu sót, như chưa có quy định về trách nhiệm của VKSND cấp cao trong việc kiểm sát bản án, quyết định để thực hiện chức năng kiến nghị, kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (đối với công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự, hành chính thì đã được Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính thay thế Chỉ thị số 04/CT-VKSTC-VPT1 ngày 17/5/2012 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm án dân sự, hành chính và đã khắc phục được những bất cập, thiếu sót tương tự).

4. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện. 
Một là, Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp phải chú trọng quán triệt và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, chuyên viên các cấp phải nghiên cứu, nắm đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và của ngành (nhất là 02 chỉ thị nêu trên) về công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện. Coi đây là một trong những khâu công tác kiểm sát cơ bản của đơn vị mình. 
Hai là, đối với Viện kiểm sát cấp huyện phải thực hiện nghiêm quy định sau khi nhận được bản án, quyết định, Kiểm sát viên, công chức được phân công kiểm sát phải đọc kỹ để phát hiện vi phạm, trường hợp cần thiết thì phải khẩn trương xác minh, làm rõ, mời đương sự đến làm việc để làm rõ những vi phạm thiếu sót của Tòa án để phục vụ cho việc xem xét kháng nghị, lập phiếu kiểm sát báo cáo Lãnh đạo viện. Đồng thời phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm, phiếu kiểm sát bản án, quyết định cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm đúng mẫu quy định, đầy đủ và kịp thời. Đối với những bản án, quyết định Tòa án gửi chậm (trường hợp này hay có vấn đề áp dụng không đúng pháp luật), Viện kiểm sát cùng cấp phải theo dõi chặt chẽ thời gian gửi bản án, quyết định, thường xuyên trao đổi, nhắc nhở Tòa án cùng cấp gửi sớm hoặc đúng thời hạn quy định. Trường hợp Tòa án gửi chậm nếu dẫn đến việc kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát bị chậm trễ phải kiến nghị khắc phục vi phạm ngay từng trường hợp, trường hợp chậm trễ lặp đi lặp lại, nhưng không đến mức nghiêm trọng thì tập hợp kiến nghị theo định kỳ hàng tháng, quý, năm. Phải xác định đây là cấp kiểm sát chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp.
Ba là, đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh: Tăng cường kiểm sát bản án, quyết định do Viện kiểm sát cấp sơ thẩm gửi lên, thực hiện phát hiện vi phạm thì phải kháng nghị phúc thẩm kịp thời, trường hợp vụ việc phức tạp thì cần xác minh làm rõ như Viện kiểm sát cấp sơ thẩm như nêu trên hoặc rút hồ sơ của Tòa án cấp huyện để nghiên cứu. Trường hợp thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện phát hiện những vi phạm nhưng đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm thì phải báo cáo để VKSND cấp cao xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Làm tốt công tác hướng dẫn nghiệp vụ cho Viện kiểm sát cấp dưới. Mặt khác, để khắc phục tình trạng Viện kiểm sát cấp huyện gửi không đầy đủ hoặc không kịp thời bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp cho Viện kiểm sát cấp tỉnh, thì Viện kiểm sát cấp tỉnh cần phải mở sổ theo dõi việc tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện, hàng tháng tổng hợp, so sánh, đối chiếu với số liệu thống kê, báo cáo công tác định kỳ của Viện kiểm sát cấp huyện hoặc thông qua hồ sơ vụ án phúc thẩm để xác định bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện có được Viện kiểm sát cấp huyện gửi cho Viện kiểm sát cấp tỉnh hay không. Trên cơ sở đó, hàng năm, Viện kiểm sát cấp tỉnh phải tổ chức kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát bản án, quyết định, để thấy được ưu điểm và hạn chế nhằm đề ra giải pháp phù hợp. Cần ban hành nhiều thông báo rút kinh nghiệm gửi các đơn vị cấp huyện để nghiên cứu nhằm khắc phục các vi phạm, thiếu sót, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm. 
Bốn là, đối với VKSND cấp cao: Trong mối quan hệ giữa VKSND cấp cao với Viện kiểm sát cấp tỉnh và Viện kiểm sát cấp huyện trong phạm vi địa bàn quản lý, để khắc phục tình trạng VKSND cấp cao không tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện làm hạn chế quyền năng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm như đã nêu trên, theo chúng tôi thì trước mắt VKSND tối cao nên có công văn yêu cầu Viện kiểm sát cấp tỉnh tăng cường công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện, định kỳ hàng tháng có báo cáo chuyên đề riêng về công tác nghiệp vụ này cho VKSND cấp cao trong phạm vi quản lý.
Năm là, tiếp tục đưa chỉ tiêu công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, kháng nghị phúc thẩm vào đánh giá thi đua hàng năm, nhưng phải lấy tiêu chí chất lượng kháng nghị để làm căn cứ đánh giá nhằm tránh tình trạng kháng nghị tràn lan hoặc không có bất kỳ kháng nghị nào trong năm công tác.
Sáu là, khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành thì sớm ban hành chỉ thị mới thay thế Chỉ thị số 03/CT-VT ngày 19/6/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự để phù hợp với Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS mới.

                                                                     Tác giả:Nguyễn Quang Dũng-Viện trưởng, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng