Cảnh giác với chiêu trò chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

28/09/2017
Xem với cỡ chữ:

Qua công tác kiểm sát giải quyết một số vụ án hôn nhân và gia đình về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ở giai đoạn giám đốc thẩm, chúng tôi nhận thấy nổi lên dấu hiệu tẩu tán tài sản cần được cảnh báo như sau: 
Vụ thứ nhất, vụ án “chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn ông Trần Phước với bị đơn bà Huỳnh Thị Thanh Nga (vợ ông Phước). 
Bà Huỳnh Thị Thanh Nga có nợ tiền của bà Trần Thị Lành và bà Trần Thị Nghiêm Quỳnh không trả, nên những người này đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bà Nga trả nợ và Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) thành phố KT đã ra các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (CNSTTCCĐS) về “yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” số 14/2011/QĐST-DS, Quyết định CNSTTCCĐS số 15/2011/QĐST-DS cùng ngày 02/3/2011 và Quyết định CNSTTCCĐS số 30/2011/QĐST-DS ngày 13/6/2011 công nhận sự thỏa thuận: bà Nga phải trả cho bà Trần Thị Lành 310.110.000đ, trả một lần vào ngày 03/8/2011; trả cho bà Trần Thị Nghiêm Quỳnh 127.400.000đ (51.000.000đ + 76.400.000đ), đều trả một lần vào ngày 30/8/2011. Do bà Huỳnh Thị Thanh Nga không có tiền mặt để trả, nên giai đoạn thi hành án, Chi cục thi hành án thành phố Kon Tum đã kê biên tài sản chung của ông Phước, bà Nga là nhà, đất tại số 275 Đào Duy Từ, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum và hướng dẫn đương sự khởi kiện chia tài sản chung để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của bà Nga đối với bà Trần Thị Lành và bà Trần Thị Nghiêm Quỳnh. 
Tại Quyết định CNSTTCCĐS số 84/2012/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2012 TAND thành phố KT về “chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” đã quyết định (tóm tắt):
Ông Trần Phước được quyền sở hữu và sử dụng 01 căn nhà cấp 4, diện tích 135 m2... trên lô đất có diện tích 301m2, địa chỉ 275 đường Đào Duy Từ, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (giá trị nhà và đất 900.000.000 đồng). 
Ông Trần Phước phải trả cho bà Nga 375.000.000 đồng tiền giá trị tài sản chung, trả một lần vào ngày 05/10/2012.
Sau khi nhận được tiền theo Quyết định CNSTTCCĐS số 84/2012/QĐST-HNGĐ này bà Nga không thực hiện nghĩa vụ đối với những người được thi hành án tại các Quyết định CNSTTCCĐS trước đó về “yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” (là các bà Trần Thị Lành, Trần Thị Nghiêm Quỳnh). Ngày 10/12/2014, bà Lành, bà Quỳnh có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Lý do các Bà là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến tài sản đang bị kê biên nhưng không biết gì về việc Tòa án phân chia tài sản chung là nhà, đất tại số 275 Đào Duy Từ, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum của bà Nga và ông Phước. Tòa án không đưa các Bà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 03/2016/HNGĐ-GĐT ngày 27/01/2016 Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên hủy Quyết định CNSTTCCĐS số 84/2012/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2012  về “chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của TAND thành phố KT. 
Vụ thứ hai, vụ án “chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn ông Cao Văn Hợi với bị đơn bà Trần Thị Thanh Thúy (vợ ông Hợi). 
Bà Trần Thị Thanh Thúy có nợ tiền của chị Mai Thị Lợi, chị Nguyễn Thị Thái không trả, những người này đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bà Thủy trả nợ. Tại các Quyết định CNSTTCCĐS về “yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” số 46/2011/QĐST-DS và Quyết định số 47/2011/QĐST-DS cùng ngày 06/9/2011 của TAND thành phố KT đã công nhận sự thỏa thuận: Bà Thúy có nghĩa vụ thanh toán cho chị Mai Thị Lợi 60.600.000đ và 05 chỉ vàng SJC; thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thái 59.150.000đ, thanh toán một lần cùng vào ngày 30/9/2011. Do bà Trần Thị Thanh Thúy không có tiền mặt để trả, nên giai đoạn thi hành án, Chi cục thi hành án thành phố Kon Tum hướng dẫn đương sự khởi kiện chia tài sản chung là nhà và đất số 54 Đinh Công Tráng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của bà Thúy. 
Ngày 12/3/2012, ông Cao Văn Hợi khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung với bà Thúy. Cũng trong thời gian này, bà Lã Thị Bích Ngọc khởi kiện đòi nợ bà Thúy. Tại Quyết định CNSTTCCĐS số 13/2012/QĐST-DS ngày 13/4/2012, TAND thành phố KT công nhận sự thỏa thuận: Bà Thúy có nghĩa vụ thanh toán cho bà Ngọc 182.500.000đ kể từ ngày nhận được quyết định có hiệu lực pháp luật (ngày 20/4/2012).
Tuy nhiên, tại Quyết định CNSTTCCĐS số 111/2012/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2012, TAND thành phố KT chỉ công nhận (tóm tắt):
-    Tài sản chung của anh Hợi, chị Thúy là 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106m2 tại số 54 Đinh Công Tráng, thành phố Kon Tum, trị giá 550.000.000đ. Anh Hợi được chia 275.000.000đ; chị Thúy được chia 275.000.000đ.
-    Về các khoản nợ chung và nợ riêng:
Anh Hợi, chị Thúy trả cho vợ chồng anh Dương Hùng Vinh, chị Cao Thị Loan 503.440.000đ, trả bằng tài sản là căn nhà và đất 54 Đinh Công Tráng, thành phố Kon Tum. Đồng thời anh Vinh, chị Loan phải thối trả lại cho anh Hợi, chị Thúy tiền chênh lệch từ việc trả bằng tài sản là: 46.560.000 đồng và trả thêm 93.440.000 đồng. Tổng cộng 140.000.000đ, trả tiền vào ngày 28/12/2012.
Anh Hợi, chị Thúy trả cho vợ chồng chị Đoàn Thị Hạnh, anh Lê Văn Thắm số tiền 59.000.000 đồng vào ngày 28/12/2012.
Anh Hợi, chị Thúy trả cho chị Đỗ Thị Linh 40.000.000đ vào ngày 28/12/2012.
Chị Thúy trả cho chị Nguyễn Thị Tuyết Nhung 18.950.000đ vào ngày 28/12/2012.
Quyết định này không hề đề cập đến các khoản nợ của các chị Nguyễn Thị Thái, Mai Thị Lợi, Lã Thị Bích Ngọc đã được Tòa án công nhận trước đó để giải quyết vấn đề liên quan đến xử lý tài sản nhà và đất số 54 Đinh Công Tráng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án cho các Chị. Ngày 25/02/2013, các chị Nguyễn Thị Thái, Mai Thị Lợi, Lã Thị Bích Ngọc có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định CNSTTCCĐS này. 
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 06/2016/HNGĐ-GĐT ngày 8/3/2016 Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên hủy Quyết định CNSTTCCĐS số 111/2012/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2012 về “chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của TAND thành phố KT. 
Những vấn đề cần cảnh giác trong việc chia tài sản chung
Hai vụ án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại nêu trên đều nhằm xác định phần tài sản riêng của vợ, chồng để bảo đảm thi hành án cho những người được thi hành án theo các quyết định CNSTTCCĐS giải quyết những vụ kiện đòi nợ đã có hiệu lực pháp luật (là các bà Trần Thị Lành, bà Trần Thị Nghiêm Quỳnh trong vụ thứ nhất; các chị Nguyễn Thị Thái, Mai Thị Lợi, Lã Thị Bích Ngọc trong vụ thứ hai), các quyết định CNSTTCCĐS này đều của TAND thành phố KT và đã có trước khi Tòa án thành phố KT giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về chia tài sản chung. 
Quá trình giải quyết chia tài sản chung, Tòa án thành phố KT ra quyết định CNSTTCCĐS, song sự thỏa thuận này lại trái pháp luật, có dấu hiệu tẩu tán tài sản, trốn tránh việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với những người được thi hành án nêu trên, mặc dù lý do để chia tài sản chung là để bảo đảm việc thi hành án, nhưng khi xử lý tài sản chung, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến quyền lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án, không đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Mặc khác việc giải quyết chia tài sản chung còn có dấu hiệu nhờ người thân xác nhận nợ để chia nhỏ phần được hưởng khi xử lý tài sản được kê biên để bảo đảm thi hành án (đối với vụ thứ hai, các khoản nợ của vợ chồng ông Cao Văn Hợi và bà Trần Thị Thanh Thúy đối với vợ chồng anh Dương Hùng Vinh, chị Cao Thị Loan; vợ chồng chị Đoàn Thị Hạnh, anh Lê Văn Thắm, chị Đỗ Thị Linh, chị Nguyễn Thị Tuyết Nhung chưa được xác minh làm rõ có thật sự nợ hay không). Nên các quyết định CNSTTCCĐS về chia tài sản chung không bảo đảm được quyền lợi của những người được thi hành án này gây bức xúc cho họ, vì vậy họ đã có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (có hiệu lực tại thời điểm áp dụng) có nêu “Thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây: 
a) Lý do chia tài sản;...”
Khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Việc chia tài sản chung của vợ, chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”. 
Như vậy, hai vụ án chia tài sản chung nêu trên đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, phải hủy quyết định sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật. Thông qua 02 vụ án nêu trên cần cảnh giác những chiêu trò trong việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng, kịp thời phát hiện dấu hiệu tẩu tán tài sản của đương sự để có biện pháp ngăn chặn, bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự và giải quyết một cách toàn diện đối với loại án này./.

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Thái Văn Đoàn
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng