Một số vấn đề tranh tụng của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án Hành chính

10/10/2017
Xem với cỡ chữ:

 

Tranh tụng của kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là một vấn đề mới được quy định trong Luật tố tụng hành chính năm 2015 (Luật TTHC). Luật thực định và những văn bản có liên quan quy định vị trí, vai trò và trách nhiệm của kiểm sát viên trong tranh tụng khi giải quyết vụ án hành chính nhìn chung còn mờ nhạt, chưa cụ thể. Viện kiểm sát chưa phải là chủ thể của hoạt động tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính và nếu có, chỉ có thể được thể hiện đối với những vụ án mà Viện kiểm sát kháng nghị.

 

I. Cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

1. Khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

Theo Đại Từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì nhiệm vụ được định nghĩa là công việc phải làm, phải gánh vác[1]. Theo đó, có thể hiểu nhiệm vụ củaViện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi tắt là VKSND) nói chung, Kiểm sát viên (sau đây gọi tắt là KSV) nói riêng là những công việc, những nội dung mà KSV phải thực hiện trong quá trình giải quyết một vụ việc khi có phát sinh trên cơ sở những quy định của pháp luật, đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc đúng pháp luật, kịp thời, nhanh chóng, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và nhà nước.

 

Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013:1. VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Đây là quy định của Hiến pháp đối với ngành Kiểm sát nhân dân trong hệ thống chính trị, hệ thống bộ máy Nhà nước ta. Bởi Hiến pháp là đạo luật gốc, thể hiện nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước nhằm duy trì an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội, là nền tảng cho việc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia.

 

Điều 107 của Hiến pháp năm 2013 đã được cụ thể hóa tại Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật TCVKSND) về chức năng, nhiệm vụ: “1. VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Như vậy, có thể thấy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và xuyên suốt mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho VKSND là bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ nhân dân và chế độ, đây cũng chính là nhiệm vụ của cán bộ KSV trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

 

Điều 4, Điều 6, Điều 27 Luật TCVKSND; khoản 1 Điều 25 Luật tố tụng hành chính năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật TTHC 2015) quy định cụ thể một trong nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính.

 

+ Khoản 1 Điều 4 Luật TCVKSND quy định: 1. Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp (…) trong việc giải quyết vụ án hành chính (…)”.

 

+ Điểm e khoản 1 Điều 6 Luật TCVKSND quy định: “e) Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính (...)”.

 

+ Khoản 1 Điều 25 Luật TTHC 2015 quy định: 1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật”.

Như vậy có thể hiểu, nhiệm vụ của VKSND nói chung, KSV nói riêng trong giải quyết vụ án hành chính là hoạt động kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp nói chung, trong việc giải quyết vụ án hành chính nói riêng; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền lợi của nhân dân, của Nhà nước.

 

2. Khái niệm về quyền hạn của kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

Theo Đại Từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì quyền hạn được định nghĩa là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép, giải quyết công việc đúng với quyền hạn của mình[2]. Theo đó, có thể hiểu quyền hạn của VKSND nói chung, KSV nói riêng chính là thực hiện những quyền hạn mà pháp luật quy định trong quá trình giải quyết vụ việc cụ thể, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc đúng pháp luật, kịp thời, nhanh chóng, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và Nhà nước, đảm bảo cho hoạt động bình thường của VKSND nói chung, KSV nói riêng.Quyền hạn chung nhất, quan trọng nhất của VKSND trong giải quyết vụ án hành chính là kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có quyền kiểm sát các vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; KSV tham gia các phiên toà, phiên họp của Toà án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định trong vụ án hành chính của Toà án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Quyền hạn này được Luật TTHC 2015 quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 25.

 

Đồng thời, tại điểm d khoản 3 Điều 4 Luật TCVKSND quy định một trong những quyền hạn quan trọng của VKSND nói chung, KSV nói riêng khi tham gia giải quyết vụ án hành chính: “d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp”. Bởi theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 36 Luật TTHC 2015 quy định: “1. Các cơ quan tiến hành tố tụng hành chính gồm có: b. Viện kiểm sát (...); 2. Những người tiến hành tố tụng hành chính gồm có:b) Viện trưởng Viện kiểm sát, KSV, Kiểm tra viên”.

 

Thông qua việc thực hiện quyền hạn chung này, VKSND nói chung, KSV nói riêng với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã phát hiện, kịp thời quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị để sửa chữa những thiếu sót, sai lầm trong hoạt động giải quyết và xét xử vụ án hành chính nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho việc được kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.

Như vậy có thể hiểu, quyền hạn của VKSND nói chung, KSV nói riêng trong vụ án hành chính là việc VKSND và KSV có quyền tham gia kiểm sát quá trình giải quyết vụ án hành chính kể từ khi giai đoạn thụ lý đến khi thi hành bản án, quyết định của tòa án với những quyền hạn cụ thể mà pháp luật quy định, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc đúng pháp luật, kịp thời, nhanh chóng.

 

3. Khái niệm về tranh tụng và phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

3.1. Khái niệm chung về tranh tụng trong vụ án hành chính

 

Trong tiến trình cải cách tư pháp đang thực hiện hiện nay, thì Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” (sau đây gọi tắt là NQ 08/2002)và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”(sau đây gọi tắt là NQ 49/2005) được xem là những văn kiện quan trọng nhất. Trong đó, NQ 08/2002 đề ra chủ trương “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng của phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời gian quy định”. Tiếp đó, Nghị quyết 49/2005 tiếp tục nhấn mạnh việc “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh. Nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Nghị quyết 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 yêu cầu: “… Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”.

 

Trong nội dung cải cách tư pháp, tranh tụng đang là một trong những vấn đề thường xuyên được đề cập đến và cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Đặc biệt, hiện nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau như có ý kiến cho rằng trong tố tụng hành chính không có tranh tụng của KSV, mà chỉ có trong vụ án hình sự mới có khái niệm tranh tụng. Và cũng có ý kiến lại cho rằng trong tố tụng hành chính cũng như trong tố tụng hình sự đều có tranh tụng của KSV hoặc nhận thức về phạm vi tranh tụng của KSV cũng khác nhau. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là tranh tụng trong vụ án hành chính sẽ khác với tranh tụng trong vụ án hình sự, dân sự vì bản chất của từng vụ việc là khác nhau, chủ thể trong vụ việc cũng khác nhau, trong vụ án hành chính chủ thể là người khởi kiện[3] và người bị kiện[4].

 

Lần đầu tiên Hiến pháp 2013 đã đưa nguyên tắc tranh tụng vào thành một điều khoản Hiến định giữ vai trò là xương sống, là nền tảng cho hoạt động giải quyết các vụ án, vụ việc trong hoạt động xét xử tại Tòa án. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Quy định này đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và của công dân trong quá trình thực hiện các quyền năng khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa. Đồng thời, thời gian qua đã cho thấy hoạt động xét xử đang thay đổi, với bước tiến mới trọng tâm là hoạt động tranh tụng được bảo đảm, phát huy tối đa tính công bằng, dân chủ.

 

Theo các giáo trình luật học hiện nay, tranh tụng được hiểu là hoạt động của các bên tham gia xét xử đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia. Tranh tụng là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án và đưa ra phán quyết cuối cùng đảm bảo tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 

Theo Từ điển luật học thì “Tranh tụng tại phiên toà là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên toà bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Toà án với vai trò trung gian, trọng tài”. Bản chất của tranh tụng là quá trình xác minh, làm rõ công khai và tranh luận giữa các bên dưới sự điều khiển của Toà để phân tích, thẩm định, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, tạo cơ sở để toà giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật.

 

Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc, giữ vai trò nền tảng cho hoạt động xét xử tại phiên tòa nói chung, phiên tòa vụ án hành chính nói riêng. Là cơ sở cho các đạo luật, luật và văn bản pháp lý khác xây dựng những điều khoản quy định nguyên tắc này. Cụ thể, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã cụ thể hóa khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” và thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 liên quan đến hoạt động tố tụng và cải cách tư pháp. Đây cũng là lần đầu tiên, nguyên tắc tranh tụng được xây dựng trong Luật TTHC 2015 (so với Luật TTHC 2010 thì đây là quy định mới hoàn toàn). Theo đó, tại Điều 18 Luật TTHC 2015 quy định vấn đề bảo đảm tranh tụng trong xét xử: “1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Luật này. 2. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Luật này. 3. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định của Luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định”. Và khoản 1 Điều 175 Luật TTHC 2015 quy định: “Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự trong vụ án”.

 

Như vậy, có thể hiểu, tranh tụng tại phiên tòa vụ án hành chính là hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa dưới sự chủ trì của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, mà trong đó các bên trong vụ án được quyền đưa ra các quan điểm, trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự trong vụ án.

 

3.2.Khái niệm về phạm vi tranh tụng của kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

Trên cơ sở quy định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2015 về nguyên tắc tranh tụng, Luật TCVKSND 2014 đã ban hành một số điều luật cụ thể hóa nguyên tắc này vào trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND nói chung, KSV nói riêng, mang tính chất vừa là quyền vừa là trách nhiệm thực hiện trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

 

“Điều 73. Trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

 

Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi, quyết định của mình trong việc (...) tranh tụng, kháng nghị và các hành vi, quyết định khác thuộc thẩm quyền (...)

 

Điều 83. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

 

1. Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.

 

Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình trong việc thực hành quyền công tố, tranh tụng tại phiên tòa và kiểm sát hoạt động tư pháp (...)”

 

Đây là những quy định tiền đề cho KSV thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình hoạt động công tác, nhất là có quyền tranh tụng tại phiên tòa giải quyết các vụ án, trong đó có vụ án hành chính.

 

Đồng thời, tại Điều 36 Luật TTHC 2015 tiếp tục khẳng định vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hành chính đối với VKSND, và bổ sung mới người tiến hành tố tụng trong VKSND là Kiểm tra viên. Ngoài ra, tại Điều 175 Luật TTHC 2015 quy định về nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa, trong đó phần nào quy định về vai trò cũng như phạm vi, nội dung tranh tụng của KSV, Khoản 1 Điều 175 Luật TTHC 2015 quy định: “Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự trong vụ án”.

 

Tuy nhiên, hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể về phạm vi tranh tụng là gì. Theo Đại Từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì phạm vi được định nghĩa là giới hạn của một hoạt động, một vấn đề[5]. Qua đó, có thể hiểu phạm vi tranh tụng là giới hạn của việc tranh tụng, của việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng thuộc nội dung giải quyết của vụ án cụ thể diễn ra tại phiên tòa hoặc trước khi tòa xét xử cho đến khi vụ án được giải quyết.

 

Trong vụ án hành chính, VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng, tham gia vào quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án và giải quyết vụ án theo đúng nguyên tắc khách quan, nghiêm minh, đúng pháp luật. Như phân tích ở trên, nguyên tắc tranh tụng lần đầu tiên được đưa vào trong Luật TTHC 2015, cho nên cũng lần đầu tiên VKSND nói chung, KSV nói riêng cũng có quyền và trách nhiệm thực hiện nguyên tắc này trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.

 

Như vậy, phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính có thể hiểu là hoạt động của KSV tại phiên tòa hoặc trước khi tòa xét xử cho đến khi vụ án được giải quyết, là giới hạn của việc trình bày và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án hành chính, giới hạn của quá trình đưa ra chứng cứ, hỏi, đối đáp và đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, pháp luật áp dụng trong vụ án hành chính, thông qua đó làm sáng tỏ vụ án.

 

II.Cơ sở thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

1. Thực tiễn quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

Thứ nhất: nhiệm vụ và quyền hạn của KSV trong giải quyết vụ án hành chính được quy định trong Luật TCVKSND tại các Điều 4, Điều 5, Điểm e khoản 2 Điều 6, Điều 27, Điều 28. Cụ thể, tại phiên tòa, KSV phát biểu ý kiến của VKSND về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

 

Thứ hai: theo quy định tại Luật TTHC 2015 thì nhiệm vụ, quyền hạn của KSV bao gồm 02 hoạt động chính là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và phát biểu giải quyết vụ án, trong đó được quy định cụ thể trước hết tại các Điều 42, Điều 43, Điều 44 Luật TTHC 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, KSV, Kiểm tra viên VKSND.

 

1.1.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật (Điều 25 khoản 1, khoản 2)

- Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện (Điều 123, Điều 124).

- Kiểm sát việc thụ lý (Điều 126 và Điều 128).

- Kiểm sát việc thu thập chứng cứ (Khoản 6 Điều 84; Khoản 4Điều 93).

- Kiểm sát áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Các Điều 73, 75, 76 và Điều 77).

- Kiểm sát việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 141).

- Kiểm sát việc đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 143).

- Kiểm sát sau khi Tòa án tiến hành tổ chức Đối thoại (Điều 140).

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và chấp hành pháp luật của các đương sự tại phiên tòa (Điều 190, Điều 240, Điều 270).

Ngoài ra, bên cạnh thủ tục thông thường còn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn:

 

- Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn (Điều 249).

 

- Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm rút gọn (Khoản 5 Điều 253).

 

*Vấn đề phát biểu quan điểm giải quyết vụ án của KSV tại phiên tòa vụ án hành chính sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm (các Điều 190, 240, 249, 253, 270 và Điều 286).

- Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án (các Điều 194, 242, 277 và Điều 286).

 

+ Kiểm sát bản án sơ thẩm (Điều 194).

 

+ Kiểm sát bản án phúc thẩm (Điều 242).

 

+ Kiểm sát quyết định giám đốc thẩm (Điều 277).

 

+ Kiểm sát quyết định tái thẩm (các Điều 277 và Điều 286).

 

Điểm đáng lưu ý khi tiến hành kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án thì KSV phải tiến hành xem xét bản án có phản ánh đầy đủ các tình tiết khách quan trong hồ sơ vụ án hay không; việc thu thập, đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung có đúng hay không; trên cơ sở đó đánh giá quyết định của bản án có căn cứ và đúng quy định pháp luật hay không.

 

1.1.2. Thực hiện các quyền của Viện kiểm sát

* Thực hiện quyền yêu cầu (Điều 25, Điều 93, Điều 343).

 

- Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ (Khoản 2Điều 25; Khoản 6 Điều 84).

 

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu chứng cứ (Khoản 4 Điều 93).

 

- Yêu cầu cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ; đúng pháp luật (Điều 343).

 

- Điểm lưu ý: Quyền yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát được quy định tại Thông tư số 03/2012/TTLT- VKSNDTC- TANDTC ngày 01/8/2012, tuy nhiên chưa được pháp điển hóa.

 

* Thực hiện quyền kiến nghị (Điều 25, Điều 76; Điều 124; Điều 315).

 

- Kiến nghị UBND cấp phường, xã khởi kiện vụ án hành chính đối với người chưa thành niên và người bị nhược điểm về tâm thần (khoản 3, Điều 25).

 

- Kiến nghị về trả lại đơn khởi kiện để xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị (Khoản 1Điều 124).

 

- Kiến nghị việc quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 1Điều 76).

 

- Kiến nghị Tòa án về việc quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn (khoản 1 Điều 248).

 

- Kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật (khoản 8Điều 43).

 

- Kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của Cơ quan, tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án để có biện pháp thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết  định của Tòa án (Điều 315).

 

- Kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ; đúng pháp luật (Điều 343).

 

- Kiến nghị với Chánh án TANDTC xem xét theo thủ tục đặc biệt đối với Quyết định Giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC (Điều 287).

 

- Kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm (nói chung) trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính (Khoản 2 Điều 25).

 

* Thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 211; Điều 260; Điều 283)

 

2. Thực tiễn quy định của pháp luật về phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính

 

Căn cứ khoản 1 Điều 175 Luật TTHC 2015[6] thì phạm vi tranh tụng của KSV chính là giới hạn của việc làm rõ các vấn đề để xác định sự thật khách quan của vụ án, trong đó các vấn đề cần làm rõ có thể là “chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự trong vụ án” hoặc những vấn đề mâu thuẫn, chưa thống nhất giữa các đương sự cần được Tòa án phân xử. Việc tranh tụng bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án, các bên đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ và nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp. Việc tranh tụng kết thúc khi vụ án đã được giải quyết. Như vậy, phạm vi tranh tụng của KSV là giới hạn tất cả các vấn đề mà các bên tham gia tranh tụng cần làm rõ bằng các chứng cứ, tài liệu, căn cứ pháp lý, lập luận để Hội đồng xét xử có thể nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, chính xác nhất sự thật của vụ án hành chính.

 

Hoạt động và phạm vi tranh tụng của KSV xuất hiện kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý đến khi vụ án được giải quyết. Tương ứng với đó là nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi được phân công tham gia giải quyết vụ án với tư cách là người tiến hành tố tụng, được quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật TTHC 2015:“Viện kiểm sát kiểm sát vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật”.

 

Cụ thể:

 

 + Tại khoản 4 Điều 27 Luật TCVKSND quy định: Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật”.

 

+ Tại khoản 3 Điều 25 Luật TTHC 2015 quy định:“3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó”.

 

+ Tại khoản 4 Điều 43 Luật TTHC 2015 quy định: “Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này”.

 

Trong đó, thông qua hoạt động phát biểu ý kiển của VKSND về đường lối giải quyết vụ án tại phiên tòa là cách thức thể hiện cụ thể nhất phạm vi tranh tụng của KSV trong vụ án hành chính, bởi lẽ, KSV là người tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết vụ án ngay từ khi vụ án hành chính được khởi kiện, KSV cũng được quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án nên KSV là người nắm rõ bản chất vụ việc. Do đó, KSV phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án được xem như là một nội dung quan trọng để Hội đồng xét xử tham khảo đánh giá về tính hợp pháp của đối tượng khiếu kiện, bên cạnh những nội dung mà các bên đương sự trình bày.

 

Đồng thời, phạm vi tranh tụng của KSV tại phiên tòa vụ án hành chính thể hiện từ giai đoạn bắt đầu phiên tòa, trong đó quan trọng nhất là từ giai đoạn tham gia hỏi các bên trong vụ án của KSV. Ở giai đoạn hỏi này, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 177 Luật TTHC 2015, KSV tham gia phiên tòa là người tham gia hỏi cuối cùng, quy định này tạo điều kiện cho KSV nắm bắt được các vấn đề có sẵn trong hồ sơ cũng như cũng cố thêm những nội dung sẽ phát biểu ý kiến thông qua những vấn đề được các bên trả lời tại phiên tòa.

 

Mặt khác, sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và trên cơ sở những vấn đề đã được làm sáng tỏ tại giai đoạn hỏi, KSV phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án (Điều 190 Luật TTHC 2015). Tuy nhiên, như quy định tại Điều 175 Luật TTHC 2015, nội dung phát biểu ý kiến của KSV không được vượt quá phạm vi tranh tụng, nghĩa là nằm trong nội dung khởi kiện, nội dung trình bày của các bên trong vụ án.

 

Ngoài ra, đối với việc phát biểu của KSV trong phiên tòa phúc thẩm, Luật TTHC 2015 cũng quy định phạm vi tranh tụng Điều 236 và Điều 240 quy định “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm” và khoản 4 Điều 243 quy định phát biểu của KSV tại phiên họp phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị “Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm và phát biểu ý kiến về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên họp khi Kiểm sát viên vắng mặt trong trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị”.

 

Việc phát biểu của KSV tại phiên tòa giám đốc thẩm và tái thẩm, Luật TTHC 2015 quy định là đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị bên cạnh phát biểu về việc giải quyết vụ án hành chính (Khoản 3 Điều 270, Điều 286)[7].

 

Như vậy, có thể thấy những quy định của Luật TTHC 2015 và Luật TCVKSNC đã thể hiện được phạm vi tranh tụng của KSV trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, thể hiện vai trò quan trọng của VKSND nói chung, KSV nói riêng trong việc đảm bảo cho hoạt động giải quyết vụ án hành chính được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, khách quan, nghiêm minh và đúng pháp luật, đảm bảo được hoạt động xét xử của Tòa án nói chung, Hội đồng xét xử nói riêng được bình thường, bảo vệ được quyền lợi của các bên và của Nhà nước.

 

3. Thực tiễn và một số vướng mắc trong áp dụng những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính

 

3.1. Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính

 

- Qua thực tiễn nghiên cứu hồ sơ kiểm sát các vụ án hành chính, một số trường hợp việc không lập dự thảo kế hoạch tham gia xét hỏi và đặc biệt các biên bản theo dõi phiên toà ghi chép rất sơ sài, không thể hiện được diễn biến của phiên toà.

 

- Thực tiễn qua nhiều phiên toà sơ thẩm ở cấp huyện, khi tham gia xét hỏi các KSV chỉ tập trung vào nội dung vụ án, chưa nhấn mạnh vai trò kiểm sát tố tụng của VKS ở phần này, trong phần xét hỏi của KSV đa số không có câu hỏi nào liên quan đến các vấn đề tố tụng trong vụ án, trong khi có những vấn đề về tố tụng cần làm rõ như: Quyền yêu cầu của đương sự? phạm vi khởi kiện? đối tượng khởi kiện? quan hệ pháp luật?… 

     

- Thực tế cho thấy, tại phiên toà, KSV chỉ mới chú trọng phát biểu ý kiến về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và hầu như bỏ qua việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng.

 

- Không ít KSV chỉ quan tâm nhiều tới việc tuân theo pháp luật của phiên tòa mà ít quan tâm đến nội dung vụ án hoặc có lúc có nơi lại quan tâm nhiều đến đề xuất quan điểm giải quyết vụ án mà coi nhẹ việc kiểm sát tuân theo pháp luật.

 

- Tuy Luật TTHC 2015 quy định nội dung, phạm vi tranh tụng, tuy nhiên một số nơi, KSV chưa phát huy một cách có hiệu quả phạm vi tranh tụng của mình, dẫn đến việc tham gia giải quyết vụ án hành chính chưa đạt kết quả tốt, thể hiện thông qua chất lượng các câu hỏi, chất lượng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án hành chính, KSV phát biểu tại tòa còn chưa  thuyết phục, nội dung còn đơn giản, không sát với nội dung vụ kiện và diễn biến tại phiên tòa để đánh giá, nhận định việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc tham gia của người tố tụng hoặcKSV trình bày nội dung vụ án quá dài, trùng lặp với nội dung HĐXX đã nêu, đề xuất quan điểm giải quyết không rõ ràng.

 

- Khi xảy ra vi phạm nghiêm trọng của Tòa án, nhưng một số nơi, KSV được phân công do chưa nâng cao tinh thần trách nhiệm nên chưa kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện ban hành kiến nghị hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án hành chính.

 

- Khoản 3 Điều 2 Luật TCVKSND quy định: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, tức là khi xảy ra bất cứ một vụ việc nào Tòa án thụ lý thì VKSND tham gia với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, KSV là người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 156 Luật TTHC 2015 quy định: “Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử”. Quy định này giúp VKSND tăng cường trách nhiệm trong việc tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án hành chính, tuy nhiên lại là bất lợi trong trường hợp KSV vắng mặt dù có hay không có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử chứ không hoãn phiên tòa. Điều này làm ảnh hưởng đến việc phát hiện những vi phạm, sai sót của Hội đồng xét xử và của những người tham gia tố tụng khác, gây khó khăn cho công tác kiến nghị, kháng nghị của VKSND.

 

3.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính

 

*Vướng mắc do quy định của pháp luật

 

- Luật TTHC 2015 hiện hành quy định tại Điều 176 về chủ thể tranh tụng chỉ bao gồm đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Nghĩa là, KSV không phải là chủ thể tranh tụng, mà chỉ là chủ thể tham gia quá trình tranh tụng, lắng nghe và hỏi các bên trong vụ án để làm căn cứ chứng minh sự thật vụ án, chưa tham gia đúng tinh thần nguyên tắc tranh tụng. Theo quy định tại Điều 190 Luật TTHC 2015 thì sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, chứ chưa tham gia sâu rộng vào hoạt động tranh tụng.

 

- Luật TTHC 2015 quy định Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử chứ không hoãn phiên tòa trong trường hợp vắng mặt KSV, tuy mang tính tích cực là tránh trường hợp vụ án phải hoãn, kéo dài thời gian nhưng lại thiếu quy định về việc cung cấp những nội dung xảy ra, phát sinh tại phiên tòa để tạo điều kiện cho VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết vụ án hành chính. Đó là thực hiện các quyền: kiểm sát việc xét xử của Hội đồng xét xử, các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật

 

* Vướng mắc do nhận thức pháp luật

 

+ Một số nơi, do nhận thức pháp luật của KSV dẫn đến kỹ năng kiểm sát tuân theo pháp luật tại phiên tòa còn hạn chế, như: phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử còn mức độ, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng còn nhiếu thiếu sót, chưa toàn diện. KSV ít quan tâm đến nội dung, bản chất vụ án, quan hệ tranh chấp nên việc tham gia phiên tòa còn nặng về  hình thức, chưa nêu cao được trách nhiệm và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ.

 

+ Thực tế thời gian qua, chất lượng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án hành chính, KSV phát biểu tại tòa còn chưa  thuyết phục, nội dung còn đơn giản, chưa đảm bảo tính sáng tỏ sự thật vụ án, dẫn đến chưa đảm bảo được quyền lợi của các bên. Một phần xuất phát từ việc nhận thức các quyền hạn, nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho VKSND, KSV ở một số nơi còn hạn chế; một phần xuất phát từ quy định của pháp luật về phạm vi tranh tụng, chức năng tranh tụng của KSV chưa rõ ràng.

 

+ Một số KSV tham gia phiên tòa còn nghiên cứu chưa kỹ các hồ sơ, tài liệu vụ án; chưa làm tốt công tác kiểm sát việc tuyên án, kiểm tra biên bản phiên tòa, dẫn đến không phát hiện được vi phạm của các chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng, các bản án có vi phạm bị cấp phúc thẩm hủy, sửa, không phát hiện được sai lầm của Tòa án để báo cáo kháng nghị theo thẩm quyền.

 

*Vướng mắc do nguồn nhân lực (về tổ chức bộ máy, về biên chế, về trình độ chuyên môn nghiệp vụ); do nguồn vật lực (trang thiết bị, phương tiện làm việc)

 

- Về nguồn nhân lực: Hiện nay, tuy Luật TCVKSND có quy định về tiêu chuẩn cán bộ VKS, tuy nhiên có lúc có nơi còn tồn tại một số cán bộ chưa đủ trình độ, chuyên môn theo đúng chuyên ngành. Có nơi có nhiều biên chế vượt quá số lượng vụ việc giải quyết trên 01 năm ở địa phương; có nơi còn thiếu KSV, Kiểm tra viên chuyên trách hoặc thiếu chức danh lãnh đạo phụ trách...những vấn đề này tạo ra những mặt hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ việc, một số nơi xảy ra nhiều vụ Tòa án đình chỉ, hủy vụ án do lỗi KSV.

 

- Về nguồn vật lực: do hạn chế về ngân sách cũng như biến động của nền kinh tế, nên một số nơi chưa được trang bị đầy đủ những trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động giải quyết vụ án hành chính. Như nhiều nơi trang thiết bị máy vi tính, máy in, máy photo còn thiếu hoặc lỗi thời; chưa xây dựng phòng bảo quản hồ sơ... những hạn chế về nguồn vật lực này phần nào ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án hành chính.

 

III.Một số giải pháp và kiến nghị nhằm bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính

 

1.Giải pháp

 

Một là: kiện toàn tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực, thành lập đủ các đơn vị chuyên trách thực hiện công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính ở Viện kiểm sát cấp tỉnh, các Viện nghiệp vụ ở Viện kiểm sát cấp cao.

 

+ Bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, đảm nhiệm công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính ở Viện kiểm sát các cấp theo hướng chuyên sâu, không kiêm nhiệm và hạn chế điều động.

 

+ Bố trí đủ cán bộ, các vị trí lãnh đạo cấp phòng, cấp viện, đủ nguồn nhân lực cho phòng, viện kiểm sát giải quyết vụ án hành chính ở các cấp VKSND.

 

Hai là: Viện kiểm sát các cấp tiếp tục tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, phân công rõ trách nhiệm của các chức danh quản lý, chức danh tư pháp; phân công KSV kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án, tham gia đầy đủ các phiên tòa, phiên họp của Tòa án. Thực hiện đầy đủ, đảm bảo chất lượng các quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định của pháp luật.

 

Ba là: tăng cường tổ chức tập huấn hướng dẫn VKSND các cấp các văn bản quy phạm pháp luật, các thông tư, các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao… quy chế nghiệp vụ của Ngành liên quan công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, hệ thống biểu mẫu, chỉ tiêu thống kê, sổ sách ghi chép…

 

Bốn là: tăng cường công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, phát hiện đầy đủ, kịp thời các vi phạm của Tòa án và thực hiện quyền kháng nghị, quyền kiến nghị đến Tòa án cùng cấp.

 

Năm là: về yếu tố con người:

 

+ KSV phải nghiên cứu tính chất vụ án để dự kiến trước các tình huống phát sinh có thể xảy ra tại phiên toà và đường lối xử lý; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu cần thiết để sử dụng trong quá trình tác nghiệp tại phiên toà, luôn giữ vai trò chủ động.

 

+ Khi tham gia phiên toà, KSV cần phải chuẩn bị cho mình tác phong tự tin, đĩnh đạc, trang phục gọn gàng, trang nghiêm, đúng quy định của ngành, phát biểu, trình bày những nội dung rõ ràng, mạch lạc…

 

+ Tại phiên tòa, KSV cần phải ghi chép đầy đủ và có sự đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đối chiếu với danh sách câu hỏi dự kiến sẽ giúp Kiểm sát viên rà soát, tìm ra những mâu thuẫn, những điểm cần làm sáng tỏ, kịp thời bổ sung các câu hỏi phát sinh để tiến hành xét hỏi tại phiên tòa, cũng như loại bỏ các câu hỏi trùng lặp.

 

+ Tại phiên tòa, KSV cần hỏi đương sự về nhận thức các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình tại phiên toà để thực hiện hay không? Có cần được phổ biến lại để hiểu và thực hiện đúng hay không hoặc KSV cần hỏi những người tham gia tố tụng khác có muốn được tham gia xét hỏi hay không? Có đồng ý hay bổ sung gì với lời trình bày của người kia hay không?... theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính

 

Sáu là: về trang thiết bị, cơ sở hạ tầng

 

 Cần tăng cường đầu tư, xây dựng về cơ sở vật chất như: trụ sở cơ quan VKSND ở một số địa phương trong bối cảnh số lượng vụ việc hành chính nói riêng, vụ việc các loại xảy ra ngày càng nhiều. Đồng thời, bổ sung mua sắm các trang thiết bị, máy móc cần thiết phục vụ cho công tác kiểm sát của KSV. Ngoài ra, việc thống nhất vị trí của các bên như vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, KSV, Luật sư, đương sự…tại phiên tòa thế nào để đảm bảo không khí tố tụng bình đẳng, khách quan, tạo điều kiện cho các bên dễ dàng tiếp xúc trong quá trình tố tụng; hệ thống âm thanh, hình ảnh thuận tiện cho việc theo dõi tiến trình tố tụng

 

2.Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật TTHC

 

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành các quy định của Luật TTHC năm 2015; triển khai đồng bộ công tác xây dựng quy chế hệ thống sổ sách, biểu mẫu trong tố tụng hành chính, chỉ tiêu, hướng dẫn nghiệp vụ để thống nhất thực hiện trong toàn ngành.

 

+ Ghi nhận rõ nội dung và các cơ chế pháp lý đảm bảo nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo hướng thực chất, đảm bảo dân chủ, công khai, cần cụ thể hóa và quy định chặt chẽ nội dung, phương thức tranh tụng, đặc biệt là tại phiên tòa vụ án hành chính, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện có hiệu quả.

 

+ Cần quy định rõ ràng hơn về quyền và địa vị pháp lý để đương sự, của VKSND khi thực hiện quyền tranh tụng.

 

+ Quy định thủ tục tố tụng bình đẳng, đảm bảo để các bên tham gia tố tụng được xét hỏi, tranh luận một cách khách quan, công bằng và bình đẳng, phát huy vai trò của các bên trong việc hỏi, tranh luận và đối đáp trước Tòa. Các bên phải tích cực trong tranh tụng và đó là cơ sở để Tòa ra phán quyết giải quyết vụ án. Mở rộng phạm vi các vụ án có sự tham gia bắt buộc của luật sư.

 

 Thứ hai, cần xác định rõ hơn quyền hạn, trách nhiệm của HĐXX trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa theo hướng tăng cường năng lực chủ trì, điều khiển tranh tụng trong phiên tòa hành chính.

 

Thứ ba, phải xác định rõ và đầy đủ hơn quyền và nghĩa vụ của bên khởi kiện và bên bị kiện, đảm bảo cho họ quyền và nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa. Nâng cao vai trò của các bên trong việc xét hỏi, tranh luận và đối đáp trước Tòa. Các bên phải tích cực trong tranh tụng và đó là cơ sở để Tòa ra phán quyết giải quyết vụ án.

 

Thứ tư, cần nâng cao vai trò và vị trí của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính, theo hướng VKSND nói chung, KSV nói riêng là chủ thể tranh tụng. Bởi quy định hiện nay, KSV tham gia phiên tòa vụ án hành chính nhưng không phải là chủ thể tranh tụng, chỉ là chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát hoạt động tư pháp.

 

Thứ năm, cần nâng cao vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính. Luật sư tham gia tố tụng hành chính để  bảo vệ quyền lợi của người bị kiện hoặc người kiện. Đồng thời các cơ quan nhà nước cần sử dụng luật sư một cách thường xuyên chứ không chỉ khi nào có khiếu kiện thì mới cần luật sư tham vấn.

 

Thứ sáu, cần đẩy mạnh việc giáo dục, tuyên truyền về Luật TTHC 2015 và các văn bản pháp luật, đặc biệt là quyền được tranh tụng một cách cụ thể và sâu rộng để người dân hiểu biết về pháp luật tố tụng hành chính, giúp cho họ có sự chuẩn bị cần thiết các điều kiện, tiền đề khi tham gia vào tố tụng nhằm có thể thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời, giúp cho xã hội có sự hiểu biết pháp luật để có thể giám sát, đánh giá khách quan về hoạt động tranh tụng trong xét xử hành chính. Nâng cao trình độ, nhận thức người tham gia tố tụng, đảm bảo cho họ có đủ kiến thức, năng lực, khả năng diễn đạt để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa.

 

Tranh tụng của kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hành chính trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, khi mà những khiếu kiện của người dân về các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước ngày càng nhiều, diễn biến phức tạp, khi mà nền dân chủ XHCN đã được chú trọng để xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân,  do dân, vì dân và xây dựng một Chính phủ liêm chính, kiến tạo và phát triển. Điều đó sẽ tốt hơn khi người dân có quyền được Tòa án thụ lý, giải quyết những bức xúc của họ bằng một bản án và được pháp luật thực thi một cách nhanh chóng, công bằng, khách quan. Viện kiểm sát với tư cách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, là cơ quan tiến hành tố tụng cần được tham gia sâu rộng hơn trong tố tụng hành chính là cần thiết nhằm bảo đảm pháp chế XHCN, cụ thể là tranh tụng trong tố tụng hành chính, khi mà luật hành chính chưa được tập hợp thành một bộ luật về nội dung.

 

Hy vọng rằng, trong tương lai gần, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát mà đại diện là KSV tham gia trong tố tụng hành chính được xác định rõ ràng hơn, cụ thể hơn, nhất là trong tranh tụng khi giải quyết vụ án hành chính./.

 

                                                                                   Ths. Nguyễn Xuân Thanh

                                                 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

 

 

[1] Nguyễn Như Ý (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Tp. Hồ Chí Minh, tr.1251.

 

[2] Nguyễn Như Ý (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Tp. Hồ Chí Minh, tr.1384.

 

[3] Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC 2015 quy định: “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri)”

 

[4] Khoản 9 Điều 3 Luật TTHC 2015 quy định: “Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện”

 

[5] Nguyễn Như Ý (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Tp. Hồ Chí Minh, tr.1315.

 

[6]Khoản 1 Điều 175 Luật TTHC 2015 quy định: “Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự trong vụ án”

 

[7] Lê Việt Sơn, Đoàn Thị Vĩnh Sơn (2016), Vai trò của VKSND trong Tố tụng hành chính theo luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tạp chí Kiểm sát số 5/2016.