Một số nội dung cơ bản của Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân

12/09/2018
Xem với cỡ chữ:

 

Ngày 22/2/2016, Viện trưởng VKSND tối cao ban hành quyết định số 59/QĐ-VKSTC-T1 kèm theo Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân (Viết tắt là Quy chế). Để giúp bạn đọc hiểu hơn về Quy chế này, Thanh tra VKSND thành phố Đà Nẵng xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Quy chế.

 

Điều 3, Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân quy định về 03 nguyên tắc hoạt động của Thanh tra như sau:

 

1. Tuân theo quy định của pháp luật và của Ngành; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ và kịp thời; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.  

 

2. Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung và thời gian giữa các đơn vị thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra trong Ngành, trừ trường hợp thanh tra lại.

 

Trường hợp kế hoạch, quyết định thanh tra, kiểm tra do cùng cấp kiểm sát ban hành có sự trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung và thời gian thì Chánh Văn phòng VKSND cấp quyết định thanh tra, kiểm tra tham mưu với Viện trưởng VKSND cấp mình xử lý việc trùng lặp đó; trường hợp trùng lặp giữa kế hoạch, quyết định thanh tra của VKSND cấp trên và cấp dưới thì thực hiện theo quyết định của VKSND cấp trên.

 

3. Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, cá nhân là đối tượng thanh tra.

 

Điều 4, Quy chế quy định các hành vi bị nghiêm cấm

 

1. Đối với cơ quan Thanh tra, người tiến hành thanh tra

 

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra.

 

b) Thanh tra không đúng thẩm quyền, phạm vi, nội dung thanh tra.

 

c) Cố ý không ra quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, trách nhiệm xử lý của Thanh tra; cố ý không ra kết luận hoặc ra kết luận, quyết định xử lý về thanh tra trái pháp luật; bao che cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm.

 

d) Làm lộ tài liệu, thông tin về nội dung thanh tra cho người không có thẩm quyền trước khi tiến hành thanh tra hoặc khi chưa có kết luận thanh tra chính thức.

 

đ) Cất giấu, chiếm đoạt, tiêu hủy tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra.

 

e) Nhận hối lộ.

 

g) Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật.

 

2. Đối với đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan

 

a) Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu trái quy định hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực khi người có thẩm quyền yêu cầu; cất giấu, chiếm đoạt, tiêu hủy tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra.

 

b) Chống đối, gây khó khăn cho hoạt động thanh tra.

 

c) Lợi dụng ảnh hưởng của mình hoặc của người khác để tác động trái pháp luật đến người làm nhiệm vụ thanh tra.

 

d) Đe dọa, trả thù, trù dập người làm nhiệm vụ thanh tra, người cung cấp thông tin, tài liệu cho Thanh tra.

 

đ) Hối lộ, môi giới hối lộ.

 

e) Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật.

 

Khoản 3, Điều 5, Quy chế quy định  đối tượng thanh tra của Thanh tra VKSND cấp tỉnh bao gồm:

 

a) Các đơn vị cấp Phòng và tương đương thuộc VKSND cấp tỉnh; VKSND cấp huyện;

 

b) Công chức giữ chức vụ quản lý cấp Phòng và tương đương; lãnh đạo VKSND cấp huyện và các công chức khác, người lao động thuộc quyền quản lý của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh.

 

Điều 6, Quy chế quy định các nội dung công tác thanh tra gồm:

 

1. Thanh tra về hoạt động nghiệp vụ trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (gọi chung là Thanh tra nghiệp vụ).

 

2. Thanh tra về hoạt động công vụ, nội vụ, việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và việc thực hiện Quy chế dân chủ của VKSND theo sự phân công của Viện trưởng cấp mình (gọi chung là Thanh tra hành chính).

 

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về vi phạm pháp luật, kỷ luật nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của công chức, viên chức và người lao động trong Ngành (gọi chung làGiải quyết khiếu nại, tố cáo).

 

Điều 7, Quy chế quy định về hoạt động thanh tra được thực hiện theo các hình thức sau:

 

1. Thanh tra theo kế hoạch: được tiến hành theo kế hoạch đã được Viện trưởng VKSND phê duyệt;

 

2. Thanh tra đột xuất: được tiến hành khi phát hiện cơ quan, đơn vị, công chức, viên chức, người lao động trong Ngành có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng VKSND cấp mình;

 

3. Thanh tra thường xuyên: được tiến hành thường xuyên nhằm đảm bảo việc chấp hành kỷ luật nội vụ trong Ngành.

 

Điều 8, Quy chế quy định về căn cứ, thẩm quyền quyết định thanh tra như sau:

 

1. Đối với thanh tra theo kế hoạch hàng năm: Căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm đã được phê duyệt, Chánh Thanh tra ra quyết định thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.

 

2. Đối với thanh tra đột xuất: Căn cứ khoản 2 Điều 7của Quy chế, Chánh Thanh tra ra quyết định thanh tra đột xuất và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra sau khi báo cáo và được sự đồng ý của Viện trưởng VKSND cấp mình.

 

Điều 9, Quy chế quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra

 

1. Người ra quyết định thanh tra có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

 

a) Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát Đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung quyết định thanh tra; yêu cầu Trưởng Đoàn thanh tra báo cáo về tiến độ, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Đoàn thanh tra;

 

b) Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra;

 

c) Quyết định trưng cầu giám định về vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra;

 

d) Quyết định tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định đình chỉ theo quy định của pháp luật về thanh tra đối với việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

 

đ) Kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc thi hành quyết định đó gây trở ngại cho việc thanh tra;

 

e) Kiến nghị người có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ công tác và xử lý đối với công chức, viên chức, người lao động cố ý cản trở việc thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định thanh tra;

 

g) Quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo kết luận thanh tra; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định xử lý về thanh tra;

 

h) Quyết định hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra gây ra;

 

i) Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của Trưởng Đoàn thanh tra, các thành viên khác của Đoàn thanh tra trong hoạt động thanh tra;

 

k) Quyết định thay đổi Trưởng Đoàn; bổ sung, thay đổi các thành viên khác của Đoàn thanh tra;

 

l) Kết luận về nội dung cuộc thanh tra do mình có thẩm quyền ra quyết định;

 

m) Chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Điều 25của Quy chế.

 

2. Khi xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều này thì người ra quyết định thanh tra phải quyết định hoặc kiến nghị hủy bỏ ngay việc áp dụng biện pháp đó.

 

3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, người ra quyết định thanh tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng VKSND cấp mình về hành vi, quyết định đó.

 

Điều 11, Quy chế quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn thanh tra như sau:

 

1. Trưởng Đoàn có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

 

a) Tổ chức, chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Đoàn thanh tra thực hiện đúng quyết định thanh tra; kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên Đoàn thanh tra; quản lý các thành viên Đoàn thanh tra trong thời gian thực hiện nhiệm vụ thanh tra; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để giải quyết các kiến nghị của thành viên Đoàn thanh tra;

 

b) Kiến nghị với người ra quyết định thanh tra áp dụng biện pháp thuộc thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của Đoàn thanh tra;

 

c) Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra;

 

d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra;

 

đ) Quyết định niêm phong tài liệu của đối tượng thanh tra khi có căn cứ cho rằng có vi phạm pháp luật hoặc chứng cứ có thể bị tiêu hủy;

 

e) Kiến nghị người có thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định;

 

g) Kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; hoặc gây cản trở cho công tác thanh tra;

 

h) Kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với Đoàn thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc thi hành quyết định đó gây cản trở công tác thanh tra;

 

i) Báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định thanh tra về kết quả thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó.

 

2. Khi xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp quy định tại các điểm đ, g và h khoản 1 Điều này thì Trưởng Đoàn phải quyết định hoặc kiến nghị hủy bỏ ngay việc áp dụng biện pháp đó.

 

3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, Trưởng Đoàn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người ra quyết định thanh tra về việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

 

4. Trong quá trình tiến hành thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra được sử dụng dấu của cơ quan chủ trì tiến hành thanh tra khi ban hành những văn bản để áp dụng các biện pháp thực hiện quyền thanh tra.

 

Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên Đoàn thanh tra

 

1. Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng Đoàn; báo cáo Trưởng Đoàn về kết quả thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Trưởng Đoàn về tính chính xác, trung thực, khách quan của nội dung đã báo cáo.

 

2. Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra.

 

3. Kiến nghị Trưởng Đoàn áp dụng các biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn quy định tại Điều 11của Quy chế để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao.

 

Điều 14, Quy chế quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra như sau:

 

1. Đối tượng thanh tra có quyền sau đây:

 

a) Giải trình về vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra;

 

b) Khiếu nại về quyết định, hành vi của người ra quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra; khiếu nại về kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra khi có căn cứ cho rằng kết luận, quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật về khiếu nại;

 

c) Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người ra quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra theo quy định của pháp luật về tố cáo;

 

d) Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

 

2. Đối tượng thanh tra có nghĩa vụ sau đây:

 

a) Chấp hành quyết định thanh tra;

 

b) Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn, thành viên Đoàn thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;

 

c) Thực hiện yêu cầu, kiến nghị, kết luận thanh tra, quyết định xử lý của người ra quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn và thành viên khác của Đoàn thanh tra.

 

Điều 15, Quy chế quy định về thời hạn thực hiện một cuộc thanh tra được quy định như sau:

 

a) Cuộc thanh tra do Thanh tra VKSND tối cao tiến hành không quá 15 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày. Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày;

 

b) Cuộc thanh tra do VKSND cấp tỉnh tiến hành không quá 10 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày.

 

Thời hạn của cuộc thanh tra được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra; Thời hạn cụ thể của từng cuộc thanh tra và việc kéo dài thời hạn thanh tra do người ra quyết định thanh tra quyết định.

 

Điều 16,Quy chế quy định xây dựng và phê duyệt kế hoạch thanh tra

 

1. Đối với kế hoạch thanh tra hàng năm

 

a) Căn cứ xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm bao gồm: Chỉ thị công tác hàng năm của Viện trưởng VKSND tối cao; kế hoạch công tác năm của VKSND cấp mình; yêu cầu của việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và quy định của Ngành trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, trong công tác xây dựng Ngành; các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc dư luận xã hội quan tâm; yêu cầu về công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng VKSND cấp mình.

 

Ngoài những căn cứ nêu trên, kế hoạch thanh tra hàng năm của VKSND cấp tỉnh phải bám sát Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác thanh tra của Thanh tra VKSND tối cao.

 

b) Nội dung của kế hoạch thanh tra hàng năm: Kế hoạch thanh tra phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ trọng tâm của công tác thanh tra trong 01 năm.

 

c) Phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm: Kế hoạch thanh tra hàng năm của Thanh tra VKSND tối cao được trình để Viện trưởng phê duyệt trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Chỉ thị công tác năm của Viện trưởng VKSND tối cao.

 

Kế hoạch thanh tra hàng năm của VKSND cấp tỉnh được trình để Viện trưởng cấp mình phê duyệt trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác thanh tra của Thanh tra VKSND tối cao.

 

d) Việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch thanh tra hàng năm do Viện trưởng VKSND cùng cấp quyết định.

 

2. Đối với kế hoạch thanh tra đột xuất, thanh tra lại

 

a) Kế hoạch thanh tra đột xuất, thanh tra lại được ban hành sau khi có quyết định thanh tra đột xuất, thanh tra lại. Trưởng Đoàn có nhiệm vụ chủ trì xây dựng kế hoạch thanh tra đột xuất, thanh tra lại trình người ra quyết định thanh tra phê duyệt.

 

b) Kế hoạch thanh tra đột xuất, thanh tra lại căn cứ vào mục đích, yêu cầu của quyết định thanh tra.

 

c) Kế hoạch thanh tra đột xuất, thanh tra lại có các nội dung chính sau đây: mục đích, yêu cầu; phạm vi, nội dung, đối tượng, thời điểm, thời gian thanh tra; phương pháp tiến hành thanh tra, tiến độ thực hiện, việc sử dụng phương tiện, thiết bị, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ hoạt động của Đoàn thanh tra.

 

d) Thời gian xây dựng và phê duyệt kế hoạch thanh tra đột xuất, thanh tra lại không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định thanh tra.

 

Điều 19, Quy chế quy định về xây dựng đề cương và yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo như sau:

 

1. Căn cứ kế hoạch, quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo.

 

2. Đề cương yêu cầu báo cáo được gửi cho đối tượng thanh tra trước ngày công bố quyết định thanh tra ít nhất 10 ngày, trừ trường hợp thanh tra đột xuất.

 

3. Đối tượng thanh tra có trách nhiệm xây dựng báo cáo, gửi cho Trưởng Đoàn theo đúng nội dung và thời gian theo yêu cầu của đề cương báo cáo.

 

Điều 20, Quy chế quy định về trình tự tiến hành thanh tra như sau:

 

1. Trước khi tiến hành thanh tra, Trưởng Đoàn có trách nhiệm thông báo cho đối tượng thanh tra thời gian, địa điểm, thành phần dự buổi công bố quyết định thanh tra. Thành phần tham dự buổi công bố quyết định thanh tra gồm Đoàn thanh tra, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự buổi công bố quyết định thanh tra.

 

2. Trưởng Đoàn công bố quyết định, kế hoạch thanh tra và những nội dung khác liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra; yêu cầu lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra báo cáo về những nội dung theo đề cương đã yêu cầu.

 

Việc công bố quyết định thanh tra phải được lập thành biên bản, có chữ ký của Trưởng Đoàn và lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra.

 

3. Khi tiến hành thanh tra, tùy theo tình hình cụ thể, Trưởng Đoàn, Phó Trưởng Đoàn (nếu có) và thành viên Đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các điều 10, 11 và 12của Quy chế.

 

Trường hợp cần phải tiến hành kiểm tra, xác minh để việc đánh giá bảo đảm tính khách quan, chính xác hoặc những vấn đề cần phải xử lý ngay thì thành viên Đoàn thanh tra báo cáo Trưởng Đoàn xem xét, quyết định.

 

4. Các hoạt động kiểm tra, xác minh, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra phải lập thành biên bản.

 

5. Khi kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng Đoàn thông báo cho cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra về kết quả kiểm tra, xác minh. Việc thông báo được lập thành biên bản, ghi nhận đầy đủ các ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra về những nội dung đã thông báo.

 

Điều 22, Quy chế quy định về kết luận thanh tra như sau:

 

1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra và tài liệu kèm theo, người ra quyết định thanh tra chỉ đạo Trưởng Đoàn thanh tra xây dựng, hoàn thiện dự thảo kết luận và ban hành kết luận thanh tra.

 

2. Kết luận thanh tra có các nội dung chính sau đây:

 

a) Đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành, chỉ thị, hướng dẫn, chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên thuộc nội dung thanh tra;

 

b) Kết luận về nội dung thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân;

 

c) Biện pháp xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị biện pháp xử lý.

 

3. Trước khi kết luận chính thức, nếu thấy cần thiết thì người ra quyết định thanh tra gửi dự thảo kết luận cho đối tượng thanh tra để giải trình những vấn đề còn chưa thống nhất với dự thảo kết luận thanh tra (nếu có). Việc giải trình được thực hiện bằng văn bản, có các tài liệu kèm theo.

 

Điều 23,Quy chế quy định về gửi, công khai kết luận thanh tra

 

1. Kết luận thanh tra được công khai, trừ những nội dung trong kết luận thanh tra thuộc bí mật nhà nước.

 

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, người ra kết luận thanh tra tổ chức công bố kết luận thanh tra và gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra; đồng thời, lựa chọn ít nhất một trong số hình thức công khai kết luận thanh tra sau đây:

 

a) Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

 

b) Đưa lên trang thông tin điện tử của VKSND cấp mình;

 

c) Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, đơn vị là đối tượng thanh tra;

 

d) Cung cấp theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

 

3. Trưởng Đoàn có trách nhiệm thông báo cho đối tượng thanh tra và thủ trưởng cơ quan, đơn vị có liên quan về thời gian, địa điểm, thành phần tham dự buổi công bố kết luận.

 

Thành phần tham dự buổi công bố kết luận thanh tra gồm người ra quyết định thanh tra, Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, đại diện các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

 

Việc công bố kết luận thanh tra được lập thành biên bản.

 

Điều 26, Quy chế quy định về thanh tra thường xuyên

 

Căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm đã được phê duyệt, hàng tháng Thanh tra tiến hành các cuộc thanh tra việc chấp hành kỷ luật nội vụ đối với cơ quan, đơn vị và cá nhân là đối tượng thanh tra thuộc thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Quy chế.

 

Các cuộc thanh tra được lập thành biên bản (có thể kết hợp với ghi hình), ghi nhận thực trạng việc chấp hành kỷ luật nội vụ của đối tượng thanh tra.

Cuối mỗi tháng tổng hợp kết quả các cuộc thanh tra, ra thông báo chung trong phạm vi quản lý của VKSND cấp mình và báo cáo về Thanh tra VKSND tối cao để tổng hợp chung trong toàn Ngành.

 

Điều 27, Quy chế quy định về thẩm quyền thanh tra lại như sau:

 

1. Thanh tra lại là việc xem xét, đánh giá, xử lý kết luận thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra, ra kết luận thanh tra.

 

2. Viện trưởng VKSND tối cao quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chánh Thanh tra VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

 

3. Viện trưởng VKSND cấp tỉnh quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chánh Thanh tra VKSND cấp tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

 

Điều 33, Quy chế quy định trách nhiệm của đối tượng thanh tra:

 

1. Thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ, trách nhiệm của mình được ghi trong kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; kịp thời xử lý hoặc yêu cầu cấp dưới xử lý đối với các vi phạm của đơn vị, cá nhân; áp dụng các biện pháp khắc phục, phòng ngừa trong công tác quản lý.

 

2. Báo cáo kết quả thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra với cơ quan đã có kết luận, quyết định đó.

 

3. Trường hợp không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ, không kịp thời kết luận, quyết định xử lý về thanh tra thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật và của Ngành.

 

 Điều 34,  Quy chế quy định trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng thanh tra như: Chỉ đạo, yêu cầu đối tượng thanh tra thực hiện nghiêm chỉnh kết luận, quyết định xử lý về thanh tra. Trong trường hợp đối tượng thanh tra không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ, không kịp thời thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm.

 

Điều 37,  Quy chế quy định trách nhiệm của Thanh tragiúp Viện trưởng VKSND cấp mình giải quyết khiếu nại về vi phạm pháp luật, kỷ luật nghiệp vụ, kỷ luật nội vụ, phẩm chất đạo đức của công chức, người lao động trong Ngành thuộc đối tượng thanh tra được quy định tại Điều 5của Quy chế . Đối với khiếu nại do VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh đã giải quyết nhưng phát hiện có vi phạm và các quyết định kỷ luật đối với công chức, người lao động trong Ngành bị khiếu nại thì Thanh tra VKSND tối cao giải quyết.

 

Khoản 2, Điều 44, Quy chế quy định tùy từng trường hợp cụ thể, Viện trưởng VKSND cấp giải quyết khiếu nại lựa chọn một hoặc một số hình thức công khai quyết định giải quyết khiếu nại như sau:

 

a) Công bố tại cuộc họp cơ quan, đơn vị nơi người bị khiếu nại công tác;

 

b) Niêm yết tại trụ sở cơ quan giải quyết khiếu nại;

 

c) Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

 

Điều 46, Quy chế quy định trách nhiệm của thanh tra giúp Viện trưởng VKSND cấp mình giải quyết tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật nghiệp vụ, kỷ luật nội vụ, phẩm chất đạo đức của công chức, viên chức, người lao động trong Ngành thuộc đối tượng của Thanh tra được quy định tại  Điều 5của Quy chế; Đối với tố cáo do VKSND tỉnh đã kết luận nhưng phát hiện có vi phạm thì Thanh tra VKSND tối cao giải quyết.

 

Điều 50, Quy chế quy định trình tự xác minh nội dung tố cáo

 

1. Thông báo quyết định thành lập Đoàn xác minh:Trưởng Đoàn có trách nhiệm thông báo quyết định thành lập Đoàn xác minh cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị có người bị tố cáo biết. Việc thông báo được lập thành văn bản lưu hồ sơ giải quyết tố cáo.

 

2. Làm việc trực tiếp với người tố cáo: Đoàn xác minh làm việc trực tiếp với người tố cáo; yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng để làm rõ nội dung tố cáo. Nếu vì lý do khách quan, không thể làm việc trực tiếp với người tố cáo thì người ra quyết định thành lập Đoàn xác minh hoặc Trưởng Đoàn có văn bản yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng để làm rõ nội dung tố cáo.

 

3. Làm việc trực tiếp với người bị tố cáo: Đoàn xác minh phải làm việc trực tiếp với người bị tố cáo; yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về những nội dung bị tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo, nội dung giải trình.

 

Trong trường hợp giải trình của người bị tố cáo chưa rõ; thông tin, tài liệu, bằng chứng do người bị tố cáo cung cấp chưa đầy đủ thì Đoàn xác minh yêu cầu người bị tố cáo tiếp tục giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng về các vấn đề còn chưa rõ.

 

4. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo.

 

5. Thu thập, xử lý, quản lý thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo.

 

Việc yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo phải căn cứ yêu cầu của việc giải quyết tố cáo.

 

Các thông tin, tài liệu, bằng chứng được thu thập trực tiếp phải thể hiện rõ nguồn gốc. Khi thu thập bản sao phải đối chiếu với bản chính; trong trường hợp không có bản chính thì phải ghi rõ trong giấy biên nhận. Các thông tin, tài liệu, bằng chứng do cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân cung cấp phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó. Trong trường hợp tài liệu bị mất trang, mất chữ, quá cũ nát, quá mờ không đọc được chính xác nội dung thì người tiếp nhận tài liệu phải ghi rõ tình trạng của tài liệu đó trong giấy biên nhận.

 

Đoàn xác minh phải kiểm tra tính xác thực của thông tin, tài liệu, bằng chứng đã thu thập được; chú trọng những thông tin, tài liệu, bằng chứng do người tố cáo và người bị tố cáo cung cấp để chứng minh tính đúng, sai của nội dung tố cáo.

 

Các thông tin, tài liệu, bằng chứng thu thập được trong quá trình giải quyết tố cáo phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng quy định; chỉ cung cấp hoặc công bố khi người có thẩm quyền cho phép.

 

6. Căn cứ kế hoạch xác minh, tình tiết vụ việc, Đoàn xác minh tiến hành xác minh thực tế ở những địa điểm cần thiết để thu thập, kiểm tra, xác định tính chính xác, hợp pháp của các thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo.

 

7. Khi xét thấy cần có sự đánh giá về nội dung liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật làm căn cứ cho việc kết luận nội dung tố cáo, xử lý hành vi vi phạm thì người có thẩm quyền quyết định việc trưng cầu giám định.

 

Khoản 4, Điều 62, Quy chế quy định: Kết luận, kiến nghị của Thanh tra có liên quan đến trách nhiệm của đơn vị nào thì thủ trưởng đơn vị đó có trách nhiệm tổ chức thực hiện kết luận, kiến nghị của Thanh tra và thông báo kết quả thực hiện cho Thanh tra biết. Phòng Tổ chức cán bộ gửi cho Thanh tra cùng cấp quyết định kỷ luật cán bộ liên quan đến vụ việc do Thanh tra kết luận, kiến nghị xử lý.

 

Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, thay thế phần nội dung về công tác thanh tra tại Quy chế công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 808/QĐ-VKSTC-TTr ngày 11/12/2012.

 

 

Tác giả bài viết: Huỳnh Phương Đông- Thanh tra

Theo VKSND thành phố Đà Nẵng